Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Phương pháp dạy học Theo Nguyễn Bá Kim [19], khái niệm phương pháp dạy học được hiểu như sau: Phương pháp thường được hiểu là con đường, là cách thức để đạt những mục tiêu nhất định. PPDH liên hệ với quá trình dạy học, trong đó việc dạy (hoạt động và giao lưu của thầy) điều khiển việc học (hoạt động và giao lưu của trò). Hình ảnh khái quát những hoạt động và giao lưu nào đó thể hiện một cách thức làm việc của thầy trong quá trình dạy học.
PPDH là cách thức hoạt động và giao lưu của thầy gây nên những hoạt động và giao lưu cần thiết của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học. Khái niệm PPDH nên trên mang những đặc điểm sau: - Đặc điểm thứ nhất là vai trò của hoạt động của thầy và của trò. Đây không phải là hai hoạt động song song độc lập với nhau. Hoạt động của thầy gây nên hoạt động của trò.
Như vậy hoạt động của thầy là một tác động điều khiển. Tuy nhiên tác động không phải chỉ gồm hoạt động của thầy mà còn cả sự giao lưu giữa thầy và trò. - Đặc điểm thứ hai là tính khái quát của phương pháp (xem Fuhrmann – Weck 1981, tr. PPDH không phải là bản thân hoạt động và giao lưu của GV ở bình diện xem xét riêng lẻ, cụ thể.
Nếu coi những hoạt động và sự giao lưu cụ thể trong những tình huống cụ thể là phương pháp thì số lượng phương pháp sẽ có rất nhiều. PPDH là hình ảnh khái quát những hoạt động và giao lưu nào đó của người thầy. Hình ảnh này thường được hình thành do phản ánh những hoạt động, giao lưu dẫn tới thành công của GV trong quá trình dạy học 5 và phản ánh những thành tựu của khoa học giáo dục hoặc những khoa học khác thông qua khoa học giáo dục. - Đặc điểm thứ ba là chức năng phương tiện tư tưởng của PP.
PPDH là phương tiện để đạt mục tiêu dạy học, chúng phân biệt với phương tiện dạy học vì chúng là phương tiện tư tưởng. Còn phương tiện dạy học là phương tiện vật chất (xem Fuhrmann – Weck 1981, tr. Nhu cầu và định hướng đổi mới phương pháp dạy học trong trường phổ thông 1. Nhu cầu đổi mới PPDH Thực trạng về vấn đề dạy học ở nước ta hiện nay còn tồn tại một số vấn đề như: a) Về văn hóa học tập: Khái niệm văn hóa học tập chỉ hệ thống toàn thể các thể chế, hoạt động, đặc điểm tâm lý và truyền thống ở một cộng đồng trong lĩnh vực giáo dục, chúng có chức năng định hướng cho những hành động của người học trong cộng đồng, truyền thụ những thái độ và nhận thức về việc học tập, được hình thành và được chia sẻ trong tập thể cộng đồng với những hệ thống và quy chế.
Khái niệm văn hóa học tập bao gồm nhiều yếu tố như quan niệm về việc học, chương trình, mục tiêu, nội dung, PPDH, động cơ học tập, đặc điểm tâm lý, truyền thống, quan hệ giữa GV – HS trong dạy học. Đánh giá thực trạng giáo dục Việt Nam, tài liệu chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 đã khẳng định: “ Chương trình, giáo trình, PP giáo dục 6 chậm đổi mới. Chương trình giáo dục còn nặng tính hàn lâm, kinh viện, nặng về thi cử, chưa chú trọng đến tính sáng tạo, năng lực thực hành và hướng nghiệp, chưa gắn bó chặt chẽ với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội cũng như nhu cầu của người học, chưa gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học - công nghệ và triển khai ứng dụng. Từ đó có thể nêu ra hai vấn đề lớn thuộc về văn hóa học tập trong giáo dục ở Việt Nam nói chung và trong giáo dục trung học nói riêng là: - Nền giáo dục mang tính “hàn lâm, kinh viện”: khái niệm tính “hàn lâm, kinh viện” chỉ một nền giáo dục định hướng vào việc truyền thụ một hệ thống tri thức dưới dạng có sẵn dựa trên cơ sở các môn khoa học chuyên ngành, nhưng ít chú ý đến việc rèn luyện tính tích cực nhận thức, tính độc lập, sáng tạo cũng như khả năng vận dụng các tri thức đó trong thực tiễn.
Trong nền giáo dục mang tính “hàn lâm, kinh viện” thì PPDH chủ yếu dựa trên quan điểm GV là trung tâm, trong đó người thầy đóng vai trò chính trong việc truyền thụ tri thức cho HS. PPDH chủ yếu là PP thông báo tri thức, HS tiếp thu tri thức một cách thụ động. Các PP phát huy tính tích cực nhận thức của HS cũng như việc rèn luyện các PP tự học ít được chú trọng. - Nền giáo dục “ứng thí” : Việc học tập của HS mang nặng tính chất đối phó với các kỳ thi, chạy theo bằng cấp mà ít chú trọng đến việc phát triển nhân cách toàn diện cũng như năng lực vận dụng kiến thức đã học vào trong thực tiễn.
Đối với cấp THPT thì vấn đề này càng nặng nề, vì tâm lý chung của HS là muốn học lên đại học, trong khi đó chỉ tiêu vào đại học hằng năm chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với tổng số HS tốt nghiệp THPT. Từ đó dẫn tới xu hướng học lệch, học tủ nhằm mục đích đối phó với các kỳ thi. Trong khi đó các kỳ thi tuyển sinh hiện nay chỉ giới hạn ở một số môn học, cũng như không kiểm tra toàn diện tri thức và có nhiều hạn chế trong việc kiểm tra năng lực vận dụng tri thức một cách sáng tạo trong các tình huống gắn với thực tiễn [6]. b) Về phương pháp dạy học 7 Các nghiên cứu thực tiễn dạy học ở trường THPT cũng chỉ ra một số vấn đề sau đây về PPDH: - PP thuyết trình, thông báo tri thức của GV vẫn là PPDH được sử dụng quá nhiều, dẫn tới tình trạng hạn chế hoạt động tích cực của HS.
- Việc sử dụng phối hợp các PPDH cũng như sử dụng các PPDH phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của HS còn ở mức độ hạn chế. - Việc gắn nội dung dạy học với các tình huống thực tiễn còn chưa được chú trọng. - Dạy học thí nghiệm, thực hành, dạy học thông qua các hoạt động thực tiễn ít được thực hiện. - Việc sử dụng phương tiện dạy học mới, công nghệ thông tin chỉ bước đầu thực hiện ở một số trường.
- Việc rèn luyện khả năng vận dụng tri thức liên môn để giải quyết các chủ đề phức hợp gắn với thực tiễn chưa được chú ý đúng mức. Thực trạng trên đây dẫn tới hệ quả là thế hệ trẻ được đào tạo trong trường phổ thông mang tính thụ động cao, hạn chế khả năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống. Điều đó có nghĩa là giáo dục chưa đáp ứng đầy đủ mục tiêu đã đề ra là “giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo” [22- Điều 27, Luật Giáo dục 2005]. Xuất phát từ những đòi hỏi của xã hội và những vấn đề thực tiễn trên đây, việc cải cách toàn diện giáo dục THPT và đổi mới PPDH là một yêu cầu cấp thiết nhằm đạt được mục tiêu giáo dục phổ thông.
Từ đó đáp ứng được những yêu cầu của sự phát triển kinh tế – xã hội và thị trường lao động. Sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế với những ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hóa đã tạo ra những cơ hội nhưng đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục trong việc đào tạo đội ngũ lao động. Giáo dục đứng trước một thách thức là tri thức loài 8 người tăng ngày càng nhanh nhưng cũng lạc hậu ngày càng nhanh. Mặt khác thị trường lao động luôn đòi hỏi ngày càng cao ở đội ngũ lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo, linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi.
Trong xã hội tri thức, việc phát triển kinh tế - xã hội dựa vào tri thức. Vì vậy giáo dục đóng vai trò then chốt trong việc phát triển kinh tế xã hội thông qua việc đào tạo con người, chủ thể sáng tạo và sử dụng tri thức. Việc gia nhập WTO vào ngày 15/11/2006 đã đánh dấu một bước phát triển rõ rệt về kinh tế, xã hội và giáo dục của Việt Nam. Việc làm này trước hết sẽ làm tăng nhu cầu của thị trường lao động đối với đội ngũ nhân lực có trình độ cao.
Định hướng đổi mới PPDH 1. Quan điểm của nhà nước về giáo dục Quan điểm chỉ đạo của nhà nước về đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục THPT nói riêng được thể hiện: - Nguyên lý giáo dục, luật Giáo dục cũng được khẳng định “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội. - Về PPDH, luật Giáo dục cũng quy định “PP giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên. - Luật Giáo dục cũng đưa ra những quy định về mục tiêu, nội dung và PP giáo dục phổ thông cho từng cấp học.
Về nội dung dạy học, luật Giáo dục quy định: “Nội dung giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống, gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của HS, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học. 9 - Về PP giáo dục phổ thông, luật Giáo dục quy định “PP giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng PP tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiền thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS. Mục tiêu giáo dục, nguyên lý giáo dục và những quy định về nội dung, PPDH đã được khẳng định trong luật Giáo dục trên đây là những định hướng cơ sở quan trọng cho việc xây dựng chương trình dạy học.