CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN DỤNG BẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ BẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG 1. Nguồn gốc và sự phát triển của bảng điểm cân bằng Bảng điểm cân bằng là một hệ thống quản lý lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 1992 bởi Robert Kaplan - một giáo sư chuyên ngành kế toán thuộc Đại học Harvard và David Norton - một chuyên gia tư vấn thuộc vùng Boston, với mục đích nhằm góp phần hoàn thành tốt hơn chức năng kiểm soát, đo lường và đánh giá thành quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp. Trước thập niên 90, hệ thống quản trị của các doanh nghiệp vẫn chủ yếu dựa trên các chỉ số tài chính để đo lường hiệu quả hoạt động.
Nhưng chúng ta thấy rằng không phải tất cả các quy trình kinh doanh hoặc tất cả các hoạt động đều tác động trực tiếp đến lợi nhuận ròng của doanh nghiệp cũng như các phương pháp đo lường tài chính khác như lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI) hoặc thu nhập trên vốn cổ phiếu (EPS). Phương pháp đo lường này khiến các doanh nghiệp có xu hướng tập trung ngắn hạn vào các chỉ số tài chính - kết quả cuối cùng phản ánh quá khứ. Và nếu chỉ dựa trên các chỉ số tài chính này, các nhà quản trị sẽ gặp khó khăn trong việc kết nối mục tiêu của các bộ phận, cá nhân với mục tiêu của toàn doanh nghiệp và chiến lược kinh doanh, sẽ khó có thể cân bằng giữa mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp. Hơn nữa, vào những năm đầu thập niên 90, môi trường của hoạt động kinh tế trên thế giới đang ở giai đoạn chuyển hóa từ thời đại công nghiệp sang thời đại công nghệ thông tin.
Trong thời đại thông tin, các 7 doanh nghiệp không còn khai thác được những lợi thế cạnh tranh bền vững nếu chỉ dựa vào việc áp dụng công nghệ mới trên các tài sản hữu hình. Điều đó kéo theo sự thay đổi trong cách nhìn nhận của các nhà quản lý về vai trò của các tài sản hữu hình và vô hình. Việc khai thác và huy động các tài sản vô hình ngày càng trở thành yếu tố có tính quyết định hơn so với việc đầu tư và quản lý các tài sản hữu hình. Do vậy, những thước đo truyền thống dựa trên các chỉ số tài chính không còn phù hợp để kiểm soát, đánh giá chính xác hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong thời đại mới.
Các doanh nghiệp cần một công cụ mới, có thể đưa ra một cái nhìn cân đối về tất cả các nhân tố trong một doanh nghiệp và đưa ra cách thức đánh giá hiệu quả hoạt động phù hợp hơn. Bảng điểm cân bằng ra đời nhằm đo lường hoạt động của một tổ chức, một bộ phận thông qua một hệ cân bằng gồm 4 phương diện, đó là phương diện tài chính, phương diện khách hàng, phương diện quy trình hoạt động nội bộ và phương diện đào tạo và phát triển. Bảng điểm cân bằng giúp doanh nghiệp đo lường hiệu quả hoạt động dựa trên các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, giúp các nhà quản lý có một cái nhìn cân bằng hơn về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp và có thể đánh giá một cách toàn diện mức độ hoàn thành và hiệu quả của các chiến lược kinh doanh. Sau khi được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1992, bảng điểm cân bằng đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi không chỉ trong các tổ chức kinh doanh mà còn trong các tổ chức phi chính phủ và cơ quan chính phủ tại nhiều quốc gia tiên tiến ở châu Mỹ, châu Âu, và nhiều quốc gia phát triển ở châu Á như Ấn Độ, Thái Lan, Singapore, Trung Quốc, Malaysia,.
Ước tính có 60% doanh nghiệp trong danh sách Fortune 1000 áp dụng bảng điểm cân bằng (Kaplan, 2004). Đặc biệt hơn, mô hình này được xem như là một công cụ hoạch định chiến lược và quản lý hiệu quả trong các chương trình cải cách 8 hành chính của nhiều cơ quan chính phủ giúp giải quyết và hạn chế đáng kể tình trạng quan liêu, tham nhũng và cải thiện hiệu quả quy trình làm việc cho khu vực công. Bảng điểm cân bằng được đánh giá là một trong 75 ý tưởng có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20 (Niven, 2009). Trong kết quả khảo sát toàn cầu về các công cụ quản lý năm 2011 do hãng tư vấn Bain công bố, bảng điểm cân bằng đã lọt vào top 10 công cụ quản lý được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới.
Khái niệm bảng điểm cân bằng và các khái niệm liên quan 1. Khái niệm bảng điểm cân bằng "Bảng điểm cân bằng là một hệ thống nhằm chuyển tầm nhìn và chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu và thước đo cụ thể thông qua việc thiết lập một hệ thống đo lường hiệu quả trong việc quản lý công việc.10] Nhờ công cụ đo lường đó, cho phép tạo ra sự cân bằng như sau: Cân bằng giữa mục tiêu ngắn hạn với mục tiêu dài hạn; Cân bằng giữa những đánh giá bên ngoài liên quan đến các cổ đông, khách hàng với những đánh giá nội bộ liên quan đến quy trình xử lý, đổi mới, đào tạo và phát triển; Cân bằng giữa kết quả mong muốn đạt được trong tương lai với những kết quả đã xảy ra trong quá khứ; Cân bằng giữa những đánh giá khách quan với chủ quan. Các khái niệm liên quan Tầm nhìn Tầm nhìn như là một bản đồ chỉ ra lộ trình một doanh nghiệp dự định để phát triển và tăng cường các hoạt động kinh doanh của nó. Sứ mệnh Sứ mệnh nhằm xác định mục đích tồn tại của doanh nghiệp, đó là việc gia tăng tài sản của cổ đông và phản ánh động lực của nhân viên doanh nghiệp.
9 Mục tiêu Mục tiêu được cụ thể hóa từ chiến lược của tổ chức, các kết quả từ việc đo lường các mục tiêu cho biết tổ chức có đang làm tốt công việc hay không. Chiến lược Johnson và Scholes định nghĩa: "Chiến lược là định hướng và phạm vi dài hạn của một tổ chức nhằm giành lợi thế cạnh tranh thông qua việc định dạng các nguồn lực trong môi trường thay đổi để đáp ứng nhu cầu thị trường, thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan".[9] Bản đồ chiến lược Bản đồ chiến lược là công cụ kết nối giữa chiến lược và bảng điểm cân bằng, kết nối giữa văn bản chiến lược và kế hoạch triển khai hoạt động thực tế. Bản đồ chiến lược trình bày bằng sơ đồ về điều phải làm trong các phương diện của bảng điểm cân bằng để thực thi thành công chiến lược của doanh nghiệp. Thước đo Các thước đo được diễn giải trực tiếp từ các mục tiêu trong bản đồ chiến lược nhằm xác định doanh nghiệp có đạt được mục tiêu và tiến tới thực thi thành công chiến lược hay không.
Sự cần thiết của việc vận dụng bảng điểm cân bằng trong đánh giá thành quả hoạt động tại doanh nghiệp Theo Robert Kaplan và David Norton, những gì chúng ta không đo được thì chúng ta sẽ không quản trị được. Bảng điểm cân bằng là hệ thống đo lường thành quả hoạt động tối ưu nhất hiện nay, đã được nhiều doanh nghiệp trên thế giới áp dụng. Để trả lời cho câu hỏi tại sao cần thiết phải vận dụng bảng điểm cân bằng thì chúng ta cần xem xét những lý do sau: Hạn chế của phương pháp đo lường truyền thống Phương pháp truyền thống sử dụng chủ yếu các thước đo tài chính để đánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp, nhưng ở thời đại công nghệ 10 thông tin như hiện nay thì việc sử dụng phương pháp đo lường này đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế sau: Thứ nhất, thước đo tài chính không cung cấp đầy đủ các thông tin để đánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp. Các báo cáo tài chính cung cấp các thông tin tài chính mà không cung cấp đầy đủ các thông tin phi tài chính và không có giá trị tin cậy cao.
Hơn nữa, các thước đo tài chính chỉ đánh giá các kết quả trong quá khứ chứ không dự báo tương lai và thường được sử dụng để đánh giá thành quả của các nhà quản lý cấp cao, không thể sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của nhân viên cấp thấp. Thứ hai, sử dụng thước đo tài chính dễ dẫn đến việc hy sinh lợi ích trong dài hạn chỉ để đạt được các mục tiêu ngắn hạn của doanh nghiệp như tối thiểu hóa chi phí bằng việc cắt giảm lao động… Điều này, sẽ dẫn đến sự thu hẹp về quy mô của doanh nghiệp, làm phá hỏng giá trị của doanh nghiệp trong dài hạn. Thứ ba, phương pháp truyền thống đánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua các chỉ số được thể hiện trên báo cáo tài chính, điều này dễ dẫn đến việc bóp méo các chỉ số tài chính để phục vụ những mục đích tài chính trong ngắn hạn của người đứng đầu doanh nghiệp như việc lợi dụng tài khoản chờ phân bổ chi phí để tăng lợi nhuận, khai khống doanh thu và gian lận trong các khoản phải thu để đạt mức tăng trưởng mong muốn thể hiện trên báo cáo tài chính. Sự gia tăng giá trị của tài sản vô hình Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, với sự trợ giúp đắc lực của máy vi tính và internet, những thế mạnh của doanh nghiệp trong thời đại công nghiệp đã không còn tạo ra lợi thế cạnh tranh mà thay vào đó lợi thế cạnh tranh hiện nay là khả năng huy động và triển khai tài sản vô hình.
Khác với nguồn hình thành của tài sản hữu hình, tài sản vô hình được tạo ra từ việc: 11 Phát triển những mối quan hệ với khách hàng để duy trì lòng trung thành của khách hàng hiện tại và phát triển những phân khúc thị trường mới; Phát triển những dòng sản phẩm và dịch vụ mới nhằm đáp ứng nhu cầu những khách hàng tiềm năng; Sản xuất sản phẩm và bán hàng và cung cấp dịch vụ chất lượng cao, chi phí thấp để nhận được sự hài lòng từ khách hàng; kỹ năng và động lực thúc đẩy nhân viên để họ không ngừng phát triển khả năng, chất lượng làm việc và sự hưởng ứng trong công việc; Triển khai công nghệ thông tin, hệ thống cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp. Ngày nay, nhiều doanh nghiệp đã thấy được sức mạnh của tài sản vô hình và ra sức đầu tư để phát triển các tài sản này.