Chương I của Luật đất đai năm 2003 quy định: “Thu hồi đất là việc nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này”. Nhà nước thực hiện thu hồi đất trong các trường hợp sau: 1. Nhà nước sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế; 2. Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; 3.
Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả; 4. Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất; 5. Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền; 6. Đất bị lấn, chiếm; 7.
Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế; 8. Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất; 9. Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước; 10. Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia 13 hạn khi hết thời hạn; 11.
Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn mười tám tháng liền; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn hai mươi bốn tháng liền; 12. Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép. Như vậy việc thu hồi đất được nghiên cứu trong luận văn thuộc trường hợp thứ nhất trong Luật đất đai. Thực tế ở Việt Nam trong thời gia qua, diện tích đất thu hồi để phục vụ phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế là chủ yếu, chiếm số lượng và tỷ lệ lớn.
Thu hồi đất và tác động của nó đến việc làm của nông dân a. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá - quá trình tất yếu trong phát triển kinh tế nước ta. Mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định có một cơ sở vật chất - kỹ thuật tương ứng. Cơ sở vật chất - kỹ thuật của một xã hội là toàn bộ hệ thống các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội, phù hợp với trình độ kỹ thuật (công nghệ) tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu xã hội.
Tiêu chí đánh giá sự biến đổi cơ sở vật chất - kỹ thuật của xã hội là sự biến đổi và phát triển lực lượng sản xuất; sự phát triển khoa học - kỹ thuật; tính chất và trình độ của các quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ sản xuất thống trị. Đặc trưng về cơ sở vật chất - kỹ thuật của các phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản là dựa vào công cụ thủ công, nhỏ bé, lạc hậu. Đặc 14 trưng của cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản là nền đại công nghiệp cơ khí hoá. Chủ nghĩa xã hội - giai đoạn thấp của phương thức sản xuất mới cao hơn chủ nghĩa tư bản, đòi hỏi một cơ sở vật chất - kỹ thuật cao hơn trên cả hai mặt: trình độ kỹ thuật và cơ cấu sản xuất gắn với thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại.
Do vậy, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội phải là nền công nghiệp lớn hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa cao dựa trên trình độ khoa học và công nghệ hiện đại được hình thành một cách có kế hoạch và thống trị trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.Mác đã chỉ ra rằng việc quá độ lên CNXH từ xã hội phong kiến hoặc xã hội tư bản là một tất yếu khách quan, một quy luật kinh tế mang tính phổ biến và được thực hiện thông qua CNH, HĐH. Do vậy, mỗi bước tiến của quá trình CNH, HĐH là một bước tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN. Đối với nước ta, CNH, HĐH đất nước là một chủ trương lớn và đúng đắn được Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VII đến Đại hội IX của Đảng và tiếp tục được khẳng định tại Đại hội Đảng lần thứ X “Đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” [34, tr. Quan điểm về CNH, HĐH được nêu ra tại Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VII như sau: CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao [30, tr.
Mục tiêu của CNH, HĐH là “xây dựng nước ta thành một nước công 15 nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Từ nay đến năm 2020 ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” [31, tr. CNH, HĐH đất nước là một nhiệm vụ trọng tâm đối với nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nội dung chủ yếu của CNH, HĐH là: + Phấn đấu đạt và duy trì liên tục tốc độ tăng trưởng nhanh, ổn định và bền vững; + Thực hiện quá trình ĐTH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng giảm tỷ trọng kinh tế, tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp (nông - lâm - ngư nghiệp) và tăng tỷ trọng kinh tế, tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ; + Thực hiện quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân.
Nói cách khác là quá trình chuyển nền sản xuất xã hội từ trình độ công nghệ thấp lên trình độ công nghệ cao cùng với sự phân bố nguồn nhân lực phù hợp với cơ cấu ngành nghề; + Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một quá trình bao trùm tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động, hướng vào thúc đẩy hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, cho phép khai thác tốt nhất các nguồn lực và lợi thế của đất nước; + Công nghiệp hoá, hiện đại hoá vừa là quá trình kinh tế - kỹ thuật vừa là quá trình kinh tế - xã hội. Do vậy nhìn theo chiều sâu của sự phát triển kinh tế - xã hội đó là phát triển con người và nguồn lực con người là nội dung cốt lõi; + Công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng đồng thời là quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, mở rộng quan hệ kinh tế quốc dân, bao gồm mở rộng phân công lao động ở địa phương, vùng, toàn quốc và phân công lao 16 động quốc tế; + Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải được thực hiện hướng vào phát triển các giá trị hiện đại, văn minh chung của nhân loại ngày nay, đảm bảo các điều kiện phát triển bền vững, hài hoà cả về thiên nhiên, môi trường và con người. Cho đến nay, cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định CNH, HĐH là cách thức phổ biến và hữu hiệu làm thay đổi căn bản bộ mặt kinh tế - xã hội của các nước. Việc thực hiện có kết quả quá trình CNH, HĐH trước hết sẽ thủ tiêu tình trạng lạc hậu về trình độ của lực lượng sản xuất, từ công cụ lao động, phương tiện sản xuất đến yếu tố người lao động, thay vào đó là những công nghệ, phương tiện và phương pháp quản lý tiên tiến, hiện đại, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ phân công lao động xã hội, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, nhờ vậy năng lực sản xuất tăng lên, kinh tế phát triển.
Mặt khác, CNH, HĐH nâng cao mức sống dân cư, tạo điều kiện phát triển dân trí, đưa xã hội đến trình độ văn minh công nghiệp. Tuy nhiên, CNH, CNH mang lại hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội đến đâu còn phụ thuộc vào tính ưu việt trong mục tiêu CNH, HĐH của mỗi nước. Cùng với CNH, HĐH, đô thị hóa là một tiêu chí quan trọng đánh giá sự phát triển của xã hội. Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy, tiền đề của đô thị hóa là sự phát triển của công nghiệp hay CNH là cơ sở phát triển của đô thị hoá.
ĐTH được xem là một trong những nét đặc trưng cơ bản nhất của thời đại ngày nay. Đó là quá trình biến đổi và phân bố lại lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị theo chiều rộng và theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất - kỹ thuật và tăng quy mô dân số ở các đô thị [54, tr. Như vậy, thực chất của CNH, HĐH và ĐTH ở nước ta chính là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển mạnh các ngành công 17 nghiệp và dịch vụ gắn với khoa học – công nghệ, cơ cấu lại việc phân bố dân cư theo hướng tăng nhanh số lượng dân cư sống ở khu vực thành thị và giảm mạnh số lượng, tỷ lệ dân cư sống ở khu vực nông thôn.