Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 1. Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và việc giải quyết vụ án hành chính 1. Khái quát về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong bộ máy nhà nước ở Việt Nam Cùng với quá trình phát triển của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đến những năm 1957 – 1958, ngành tư pháp có bước phát triển mới đòi hỏi phải có những cải cách đảm bảo cho một nền tư pháp dân chủ, duy trì hoạt động có hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu của cách mạng. Tại khóa họp lần thứ 8, ngày 29 tháng 4 năm 1958, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quyết định thành lập Tòa án tối cao và hệ thống Tòa án, thành lập Viện công tố Trung ương và hệ thống cơ quan công tố tách khỏi Bộ tư pháp.
Đến năm 1976, hệ thống Viện kiểm sát đã cơ bản được thiết lập ở tất cả các địa phương, ngành Kiểm sát tiếp tục củng cố, hoàn thiện các đơn vị trên phạm vi cả nước. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân là một trong bốn hệ thống cơ quan cấu thành nên bộ máy Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Từ cấu trúc bộ máy Nhà nước Việt Nam hiện nay cho thấy Viện kiểm sát nhân dân có mối quan hệ chặt chẽ và chịu sự giám sát của các cơ quan quyền lực Nhà nước ngang hàng và chịu trách nhiệm về các hoạt động thực hiện nhiệm vụ của mình trước Quốc hội và các cơ quan Nhà nước khác.
Viện kiểm sát nhân dân trong 7 bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo chế độ tập trung thống nhất, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nào và tồn tại như một hệ thống độc lập. Hiện nay, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam, bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh), Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện), Viện kiểm sát quân sự các cấp. Trong đó, mối quan hệ lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân cụ thể: “Viện Kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân địa phương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm và bãi nhiệm” [25, Điều 140]. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện là một cơ quan tư pháp ở cấp đơn vị hành chính cấp huyện. Tuy nhiên do có vị trí, chức năng và nhiệm vụ riêng nên hệ thống các Viện kiểm sát nhân dân các cấp được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc đặc thù. Đó là nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành và nguyên tắc độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ một cơ quan nhà nước nào ở địa phương.
Theo quy định của pháp luật hiện hành chức năng thực hành quyền công tố của Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện gồm: Yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định; Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra, cơ quan 8 được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tội phạm, người phạm tội; Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội; Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật; Quyết định việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố; Quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa; Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp Viện kiểm sát nhân dân phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội đối với người phạm tội theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bên cạnh đó, Viện kiểm sát nhân dân cũng cần góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà trọng tâm là cải cách hành chính. Đảng ta đã chỉ rõ: “Đẩy mạnh việc giải quyết các khiếu kiện của dân, soát xét, bổ sung và thể chế hóa các chính sách, trước hết đối với lĩnh vực mà dân khiếu kiện nhiều như những tranh chấp về nhà, đất,…”. Cần “xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng và do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Thực hiện quyền dân chủ của nhân dân, giữ nguyên kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và lợi ích cá nhân” [57]. Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện là đơn vị tiếp xúc trực tiếp với nhân dân của huyện đó, có thể nắm bắt rõ nhất tình hình thực tế của nhân dân sinh sống tại địa phương được quản lý. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện chính là nền tảng để có thể gắn kết Viện kiểm sát với nhân dân, giúp kiểm soát tốt việc thực thi pháp luật của cá nhân, cơ quan và tổ chức đang sinh sống và hoạt động tại địa phương. Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện gồm có các bộ phận công tác sau đây: Bộ phận thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử và kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam.
Bộ phận giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, kiểm sát thi hành án. 9 Bộ phận văn phòng tổng hợp, thống kê tội phạm và khiếu nại, tố cáo. Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện không có ủy ban kiểm sát như đối với cấp tỉnh và trung ương mà chỉ có các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc do Viện trưởng và Phó Viện trưởng phân công. Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nằm trong hệ thống Viện kiểm sát, vì vậy vẫn phải tuân thủ thực hiện các chức năng và nhiệm vụ cơ bản của ngành.
Cụ thể gồm một số nhiệm vụ chính sau đây: Kiểm sát việc khởi tố, bao gồm: Yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định; Kiểm sát việc điều tra, thu thập chứng cứ, lập hồ sơ vụ án hình sự, dân sự, hành chính để khởi tố của các cơ quan điều tra; Kiểm sát việc tuân theo trong quá trình tố tụng và của các bên có liên quan khi tố tụng. Nếu có sai phạm, thì kịp thời yêu cầu cơ quan điều tra khắc phục và sửa lỗi, cũng như yêu cầu kỷ luật xử lý nghiêm minh những điều tra viên hoặc cơ quan điều tra gây nên vi phạm; Có trách nhiệm nêu lên ý kiến và những đề xuất kiến nghị với các cơ quan lãnh đạo cấp trên để hoàn thiện những quy định về tổ chức hoạt động và phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân cần đảm bảo: Không để bỏ lọt những hành vi phạm các quy định pháp luật, để lọt tội phạm và xử lý sai người, mọi hành vi vi phạm, phạm tội đều cần phải được khởi tố và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật; Mọi việc truy cứu trách nhiệm dân sự hoặc hình sự đều phải căn cứ theo đúng quy định của pháp luật; Cần phải có sự khách quan, toàn diện, chính trực trong quá trình xử lý, giải quyết vụ án và phải có sự công bằng, khách quan khi giám sát các cơ quan điều tra thực hiện nhiệm vụ. Ngoài những nhiệm vụ chính được quy định đã được nêu ở trên, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện cũng có những nhiệm vụ nhỏ khác để giúp hoàn thiện, hoàn thành được nhiệm vụ đã nêu trên.