phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG ĐỊNH HƢỚNG XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái niệm nhà nƣớc pháp quyền Để xác định được nội hàm khái niệm nhà nước pháp quyền, trước hết cần phải khảo sát lịch sử hình thành khái niệm đó, những mầm mống tư tưởng về nhà nước và pháp quyền từ thời kỳ cổ đại ở cả phương Đông và phương Tây. Ở phương Đông, nhà nước được hình thành sớm do nhu cầu trị thủy, chống giặc ngoại xâm và trở thành một công cụ toàn năng để cai trị nhân dân, bảo vệ chế độ quân chủ chuyên chế.
Những luật lệ đầu tiên cũng nhanh chóng xuất hiện ở nhà nước Ai Cập – nhà nước ra đời sớm nhất trên thế giới; nhưng bộ luật thành văn cổ nhất trong lịch sử loài người lại được xây dựng tại Babylon cổ đại dưới thời vua Hamurabi (1792-1750 TCN) và giữ vị trí quan trọng trong việc cai trị xã hội, bảo vệ chế độ sở hữu của tầng lớp chủ nô. Ở Trung Quốc cổ đại, thời kỳ này thường xuyên xảy ra các cuộc giao chiến, tranh giành đất đai, quyền lực. Chính bối cảnh đó đã làm nảy sinh nhiều tư tưởng chính trị - pháp luật mà đến nay vẫn còn nhiều giá trị. Các nhà tư tưởng Trung Quốc cổ đại đã cố gắng tìm kiếm những cách thức nhằm cải biến trật tự hiện thời.
Nổi bật là tư tưởng “vô vi” của Lão Tử và tư tưởng dùng sức mạnh của pháp luật để chấn hưng đất nước của Hàn Phi Tử. Đầu tiên phải kể đến quan niệm về “Đạo” và “Vô vi” của Lão Tử (người sáng lập ra Đạo giáo). Ông quan niệm pháp luật là do vua tạo ra, vì thế nó là nguồn gốc của áp bức bóc lột và trái với quy luật tự nhiên, là người bạn đồng hành của tàn bạo và độc đoán. Tuân thủ những quy luật tự 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiên (Đạo) của cuộc sống làm cho con người giữ được trọn vẹn bản tính của mình.
Ông chủ trương một xã hội bình yên trong một quốc gia nhỏ bé, ít dân và dân thì thuần phác, hiền lành, nơi không cần học vấn, phương tiện đi lại và binh khí, người dân sống một đời chất phác, hết ham muốn, hết tranh giành. Muốn đạt tới một xã hội như trên, người cầm quyền nên tỏ ra khiêm nhường, không dùng đến bạo lực, không can thiệp đến công việc của dân, mà dùng “Đạo” để cảm hóa dân chúng. “Đạo” là cái muôn vật thành ra như nó hiện tồn hiện nay. Vì “Đạo” là quy luật của trời đất nên cách trị nước hay nhất là “vô vi”.
Đó là: không làm gì trái với tự nhiên, không đem tâm tư can thiệp vào việc người, giữ xã hội trong trạng thái quân bình và đem lại hạnh phúc cho con người. “Vô vi” mà vẫn sai khiến được quần thần, cai trị được đất nước. Chủ trương này thực chất không phải là trạng thái tiêu cực của người yếm thế, phẫn thế hay là tư tưởng bất hành động (theo quan điểm của các nhà luật học). Thực chất, đây là quan niệm hãy thuận theo tự nhiên mà cai trị (tư tưởng này có những điểm tương đồng với thuyết pháp quyền tự nhiên ở phương Tây cận đại), không làm gì nhưng thực chất là làm được tất cả.
Quan niệm của Lão Tử tiến bộ ở chỗ đã thấy được sự tồn tại tất yếu của bản tính tự nhiên của con người (chưa được hiểu là quyền tự nhiên như ở phương Tây) và để đảm bảo cho sự tồn tại của bản tính tự nhiên đó thì sự cai trị tốt nhất là hãy thuận theo tự nhiên mà tồn tại, không làm gì trái với tự nhiên. Tư tưởng này rất có giá trị đối với mô hình nhà nước pháp quyền thời hiện đại bởi việc nhận thức và bảo vệ các quyền tự nhiên của con người thông qua pháp luật là nội dung quan trọng của nhà nước pháp quyền. Điểm hạn chế trong tư tưởng của Lão Tử là quan điểm “vô vi” chỉ có tác dụng trong xã hội đơn giản, không có sự phát triển của kinh tế và các quan hệ xã hội. Mặt khác, nếu để con người tồn tại theo bản tính tự nhiên thì bản thân các cá thể có thể hủy diệt nhau theo những nhu cầu bản năng của mình, dẫn đến sự hỗn loạn xã hội.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hệ tư tưởng nghiêng về phía dùng sức mạnh của pháp luật, đối lập với tư tưởng dùng đạo đức để quản lý xã hội của Nho giáo, còn gọi là “tư tưởng pháp trị”. Những người khởi xướng tư tưởng này có thể coi là Quản Trọng (683-640 TCN) và Tử Sản (khoảng 522 TCN). Các ông chủ trương lấy pháp luật làm công cụ cơ bản để cai trị đất nước và đề ra nguyên tắc “pháp bất ly thân”, bất cứ ai (vua, tôi, trên, dưới, sang, hèn) đều phải tuân thủ pháp luật. Chủ trương tôn trọng vua, vì vua là người đặt ra pháp luật.
Các ông đưa ra yêu cầu: Pháp luật của vua phải rành mạch về luật – hình – chính và hợp với lợi ích của dân theo thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Pháp luật ban hành phải cẩn trọng và ít thay đổi.24] Thương Ưởng (khoảng 347 TCN) đã đưa tư tưởng pháp trị phát triển lên một bước tiến mới. Ông chủ trương trị nước phải kết hợp cả ba yếu tố: Pháp luật, quyền lực và lòng tin của dân. Trong đó, pháp luật là phương tiện xác định tính hợp pháp của việc chiếm hữu ruộng đất bằng mua bán, xác lập quyền bình đẳng giữa các tầng lớp xã hội và thiết lập chế độ chuyên chế trung ương tập quyền.
Hàn Phi (280-233 TCN) là người phát triển tư tưởng pháp trị lên đỉnh cao. Nội dung chủ yếu của tư tưởng pháp trị này là lấy pháp luật thay cho lễ làm công cụ trị nước, an dân và tiền đề cho việc xây dựng chế độ nhà nước phong kiến thịnh vượng. Hàn Phi cho rằng, nhà nước rất cần tới pháp luật bởi pháp luật là công cụ quan trọng để điều chỉnh xã hội. Để duy trì một trật tự đẳng cấp phong kiến như mong muốn, theo thuyết pháp trị, vua cần phải có ba yếu tố: Pháp, thế, thuật.
Trong đó, “pháp” có nghĩa là pháp luật, mệnh lệnh, chiếu chỉ xuất phát từ ý chí của vua được gọi là “cái khuôn mẫu của thiên hạ” để thần dân noi theo mà tuân thủ; “thế” có nghĩa là quyền uy, muốn pháp luật có thể được thi hành thì vua phải có “thế”; còn “thuật” là phương pháp điều hành, nghệ thuật quản lý con người. Theo thuyết pháp trị, một khi đã hội tụ đủ cả 3 yếu tố: pháp, 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thế, thuật thì vua phải chuyên quyền, độc đoán, chỉ cần thẳng tay dùng nghiêm hình phạt để cai trị. Ý nghĩa của tư tưởng pháp trị thể hiện ở những quan điểm chính trị pháp luật thực tế và đã trở thành thực tiễn sống động trong đường lối cai trị của các vị “thiên tử” sau đó. Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi không chỉ là sản phẩm của lịch sử, mà còn là yếu tố có ý nghĩa quyết định trong việc cải tạo và đưa đất nước Trung Hoa cổ đại vào thời kỳ phát triển mới.
Cùng với Lão gia, các quan điểm của Pháp gia có ý nghĩa quan trọng cho sự hình thành quan niệm về nhà nước pháp quyền ở phương Đông sau này. Ở phương Tây cổ đại, những mầm mống tư tưởng về nhà nước pháp quyền được hình thành và phát triển từng bước có tính kế thừa, thể hiện tập trung nhất ở các nhà tư tưởng cổ đại như: Xôlông, Hêraclít, Platon, Arixtốt. Các nhà tư tưởng trên đây đã cố gắng giải thích rằng, mối quan hệ và tác động qua lại giữa pháp luật và chính quyền nhà nước đã đảm bảo sự hoạt động hài hòa của xã hội. Các ông cho rằng, chính cái hình thức chính trị mà trong đó, pháp luật là điều kiện bắt buộc chung vừa cả với công dân, vừa cả với nhà nước là hợp lý và công bằng nhất.
Chính quyền nhà nước, vừa thừa nhận pháp luật, vừa bị giới hạn bởi pháp luật được coi là nhà nước chính nghĩa. Tư tưởng thống nhất quyền lực và pháp luật (cốt lõi của tư tưởng nhà nước pháp quyền) trong việc tổ chức nhà nước Aten theo nguyên tắc dân chủ được Xôlông (638-559 TCN) - nhà thông thái Hy Lạp thực hiện trong các cải cách của mình vào thế kỷ VI trước Công nguyên. Xôlông coi bản chất các cuộc cải cách của mình là: “Tôi giải phóng cho tất cả. Và điều đó đạt được nhờ có sự ngự trị của pháp luật, bởi quyền lực và pháp luật hòa hợp vào nhau”.28] Hêraclít (530-470 TCN) hết sức coi trọng pháp luật và cho rằng, pháp luật là phương thức để thực hiện cái phổ biến.
Do vậy, theo ông, 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người dân cần phải chiến đấu bảo vệ cho pháp luật, như bảo vệ cho ngôi nhà của mình. Vấn đề thể chế hóa xã hội được Platon (427-347 TCN) quan tâm nhiều. Trong tác phẩm đối thoại Nhà nước, Platon vẽ nên bức tranh một xã hội tương lai và khi luận chứng về nó, ông đã giải quyết một loạt vấn đề lý luận liên quan đến cấu trúc của xã hội đó. Theo Platon, xã hội là một tổng thể hữu cơ có cơ cấu, chức năng và lợi ích của mình, chứ không như là sự cố kết các cá nhân độc lập.
Và trong xã hội này lợi ích của toàn thể cao hơn lợi ích của từng bộ phận. Để nguyên tắc đó được thừa nhận, theo ông, nhà nước cần phải phục vụ cho lợi ích của toàn xã hội, chứ không phải vì một nhóm nào đó, không phải là đa số hay thiểu số, mà là vì tất cả. Platon coi chế độ quý tộc là hình thức nhà nước tối ưu nhất và chia nó thành hai loại nhỏ: Loại chỉ có một người nắm quyền lãnh đạo và loại do một số người nắm quyền – đó là tầng lớp quý tộc. Quan điểm về sự thống trị của các đạo luật hợp lý cũng được Arixtốt (384-323 TCN) đề xướng.
Ông được coi là “người cha” của khoa học chính trị cổ đại. Nhà nước, theo Arixtốt, là sự sáng tạo của tự nhiên, là sản phẩm của sự phát triển tự nhiên. Nền tảng của nó là nhu cầu của con người. Pháp luật đồng nhất với sự công bằng.
Tính luật pháp và tính công bằng cần phải trùng hợp với nhau.