Chương 1 SÁNG TẠO VÀ NHỮNG YẾU TỐ CỦA SÁNG TẠO 1.1 Khái niệm sáng tạo 1.1 Khái lược về lịch sử và một số quan niệm tiêu biểu về sáng tạo học * Vài nét về lịch sử của bộ môn sáng tạo học Mỗi bộ môn khoa học đều có quá trình hình thành và phát triển của nó, Sáng tạo học không phải là một ngoại lệ. Pappos - nhà toán học Hy Lạp nổi tiếng sống vào khoảng năm 300, trong tập 7 của tác phẩm “Tuyển tập toán học” của mình đã viết về một bộ môn khoa học (viết theo tiếng Anh) đặt tên là Heuristics (có gốc là từ Eureka – tìm ra rồi). Heuristics có mục đích là nghiên cứu tư duy sáng tạo, nhận thức các quy luật của nó và xây dựng các phương pháp, qui tắc tạo ra các phát minh và sáng chế (phát minh và sáng chế ở đây hiểu theo nghĩa rộng nhất). Với mục đích như vậy, có thể coi Heuristics chính là Khoa học sáng tạo hay Sáng tạo học.
Sau Pappos, các nhà khoa học đã cố gắng tiếp tục phát triển Heuristics để xây dựng nó thành một bộ môn khoa học hoàn chỉnh. Trong số đó, phải kể đến các nhà khoa học như Descartes, Leibnitz, Bolzano và Poincaré. Theo họ, Heuristics có nhiệm vụ nhận thức quá trình giải quyết vấn đề, đặc biệt chú ý đến hoạt động của tư duy. Cho nên cần sử dụng những tri thức của các khoa học khác như lôgích học, triết học, tâm lý học và kinh nghiệm cá nhân của những người giải bài toán.
Mục đích của Heuristics là tìm ra được các quy luật chung của các quá trình diễn ra khi con người suy nghĩ và giải quyết các vấn đề mà không phụ thuộc vào nội dung của chính các vấn đề đó. Tuy nhiên, Heuristics hay sáng tạo học chỉ được xem xét ở những nét chung, chưa đi vào chi tiết cụ thể. Nó chưa phát huy được tác dụng trong việc nâng cao khả năng sáng tạo của con người, cho nên, trên thực tế, ít người biết đến nó và nó dần đi vào lãng quên. Sau thế chiến thứ hai, cùng với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, ở những nước công nghiệp đã bắt đầu xuất hiện nhu cầu phải giải quyết nhanh 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và hiệu quả các vấn đề nảy sinh trên con đường phát triển.
Nhờ vậy, Heuristics đã hồi sinh, chuyển sang thời kỳ phát triển mới cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Bắt đầu từ thời kỳ này, nhiều tổ chức, trung tâm nghiên cứu về sáng tạo học ra đời và phát triển. Năm 1954, tại Bufalo, bang Neu York, Alex Osborn, tác giả của phương pháp não công thành lập Tổ chức giáo dục sáng tạo (Creative Education Foundation – CFF). Năm 1967, thông qua các hoạt động của Osborn, tại đại học Bufalo, Trung tâm nghiên cứu sáng tạo (Center for Studies in Creativity – CSC) được thành lập.
Hiện nay, Mỹ là nước có số lượng các nhà chuyên môn, trung tâm, công ty, tổ chức, đại học hoạt động nghiên cứu về sáng tạo và đổi mới nhiều nhất trên thế giới. Ở Tây Âu, năm 1969 Edward de Bono, tác giả của các phương pháp sáng tạo như tư duy chiều ngang, sáu chiếc mũ tư duy đã thành lập Công ty nghiên cứu nhận thức (Cognitive Research Trust) ở Cambridge và sau đó là Trung tâm nghiên cứu tư duy (Centre for the Study of Thinhking). Từ năm 1997, tại Đại học Malta, Edward de Bono đã đề xuất việc đào tạo thạc sỹ nghệ thuật về sáng tạo và đổi mới. Ở Liên Xô (cũ), trong số các trường phái, đặc biệt phải kể đến Lý thuyết giải các bài toán sáng chế (viết tắt theo ký tự Latinh là “TRIZ”) do G.Altshuller, nhà sáng chế, nhà văn viết truyện khoa học viễn tưởng, xây dựng từ năm 1946.Altshuller liên kết với Hiệp hội toàn liên bang của các nhà sáng chế và hợp lý hoá thành lập Phòng thí nghiệm nghiên cứu và áp dụng các phương pháp sáng chế và đến năm 1971 thành lập Học viện công cộng về sáng tạo sáng chế.
Phương Tây biết đến TRIZ chỉ sau khi Liên Xô sụp đổ nhưng đã tiếp nhận nó một cách mau lẹ và sâu rộng do lý thuyết này có nhiều ưu điểm hơn so với các lý thuyết khác đã biết. Ngày này, TRIZ đã trở thành thuật ngữ quốc tế. Ở Việt Nam, TRIZ tiếp tục được kế thừa và phát huy. Năm 1991, được sự chấp thuận của lãnh đạo Đại học tổng hợp Tp HCM, Trung tâm Sáng tạo 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa học – kỹ thuật (TSK) ra đời và trở thành cơ sở chính thức đầu tiên ở nước ta giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu phương pháp luận sáng tạo và đổi mới (PPLSTVĐM).
PPLSTVĐM là phần ứng dụng của Khoa học về sáng tạo. Tháng 8/1990, Hội nghị quốc tế nghiên cứu về sáng tạo tổ chức tại thành phố Buffalo thuộc bang New York, Mĩ đã thống nhất đặt từ tiếng Anh CREATOLOGY cho sáng tạo học. Như vậy, Heuristic là tên cổ điển, creatology là tên hiện đại của khoa học sáng tạo. Trong khoa học sáng tạo, phương pháp luận sáng tạo là phần ứng dụng của khoa học sáng tạo, giữ ví trí rất quan trọng.
Phương pháp luận sáng tạo là bộ môn khoa học có mục đích xây dựng và trang bị cho mọi người hệ thống các phương pháp, các kỹ năng thực hành tiên tiến về suy nghĩ để giải quyết vấn đề và ra quyết định một cách sáng tạo, về lâu dài tiến tới điều khiển được tư duy. Trong tương lai, Creatology là môn khoa học có triển vọng phát triển mạnh mẽ vì nhu cầu của thời đại kinh tế tri thức cần có những người lao động thông minh sáng tạo. * Một số quan niệm tiêu biểu về sáng tạo Định nghĩa khái niệm sáng tạo là nhiệm vụ quan trọng để hiểu được bản chất của sáng tạo. Trong những tài liệu về sáng tạo, khái niệm sáng tạo chưa được phân tích triệt để, các tác giả mới chỉ chú trọng vào phương pháp luận sáng tạo để có được những phương pháp sáng tạo.
Tuy nhiên, làm rõ khái niệm sáng tạo là yêu cầu nhất thiết làm cơ sở xây dựng phương pháp sáng tạo đúng đắn. Tác giả Lê Huy Hoàng trong cuốn “Sáng tạo và những điều kiện chủ yếu để kích thích sự sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay”, sau khi phân tích những quan niệm cơ bản về sáng tạo ở thời Cổ đại, Trung cổ, Khai sáng, quan niệm về sáng tạo trong triết học cổ điển Đức, triết học phương Tây hiện đại (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX) cũng như quan niệm về sáng tạo trong 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lịch sử triết học phương Đông, đứng trên lập trường macxít đã đưa ra định nghĩa về sáng tạo như sau: “Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người, trên cơ sở nhận thức được các quy luật của thế giới khách quan, tạo nên những giá trị tinh thần và vật chất mới về chất, đáp ứng các nhu cầu đa dạng của xã hội” [14, tr. Sáng tạo là quá trình diễn ra từ ý nghĩ cho đến lúc tạo ra kết quả sáng tạo. Đó là sự chuẩn bị, suy tư, nảy sinh ý tưởng mới, là sự huy động cao độ toàn bộ sức mạnh thể chất và tinh thần của chủ thể sáng tạo.
Sáng tạo là loại hoạt động bậc cao của con người. Sáng tạo là tạo ra chứ không phải tìm ra. Sáng tạo là tạo ra giá trị mới về chất đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú đa dạng của con người. Việc sáng tạo đòi hỏi phải nhận thức được các quy luật của thế giới khách quan.
Tác giả Phan Dũng trong “Giới thiệu: Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới” cho rằng: “Sáng tạo là hoạt động tạo ra bất kỳ cái gì có đồng thời tính mới và tính ích lợi” [7, tr. Sáng tạo là tạo ra. “Bất kỳ cái gì” là kết quả của sáng tạo bao hàm những sản phẩm vật chất và sản phẩm tinh thần. Kết quả sáng tạo có đồng thời “tính mới” và “tính ích lợi”.
Nếu thiếu một trong hai đặc tính trên thì “cái gì đó” không được coi là sản phẩm sáng tạo. Trong định nghĩa này, điều đáng lưu ý là chủ thể của hoạt động sáng tạo ở đây bao hàm không chỉ con người tạo ra mà hơn thế nữa có thể hiểu là sáng tạo có cả ở tự nhiên. Vì “hoạt động” ở đây dùng theo nghĩa rộng một cách có dụng ý chứ không phải theo nghĩa hẹp “hoạt động của con người”.Wilson định nghĩa sáng tạo như sau: “Sáng tạo là quá trình mà kết quả là tạo ra những kết hợp mới cần thiết từ các ý tưởng, dạng năng lượng, các đơn vị thông tin, các khách thể hay tập hợp của hai – ba các yếu tố nêu ra”. Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người, thỏa mãn những yêu cầu nào đó của cuộc sống.
Sáng tạo là quá trình tạo ra. Kết quả sáng tạo có được từ sự kết hợp những yếu tố như ý tưởng, năng lượng, thông tin sự kết hợp này đem lại giá trị: “kết hợp mới cần thiết”. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong cuốn “Khơi dậy tiềm năng sáng tạo” các tác giả cho rằng: “sáng tạo (creation) là tạo ra giá trị mới… sáng tạo còn có nghĩa là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có sẵn” [35, tr. Sáng tạo ra giá trị mới như tạo ra chữ viết, nhà văn sáng tạo ra những điển hình văn học.
Tìm ra cách giải quyết mới như giáo viên phải có phương pháp giảng dạy mới gây được hứng thú kích thích học sinh tự học. Giám đốc doanh nghiệp phải đưa ra giải pháp mới để thúc đẩy công ty phát triển. Sáng tạo là quá trình “tạo ra” nhưng cũng có nghĩa là quá trình “tìm ra” đây là sự khác biết so với những định nghĩa khác. Như vậy, những định nghĩa trên có sự khác nhau nhất định trong quan niệm về sáng tạo, song đều khẳng định sáng tạo là hoạt động “tạo ra” những sản phẩm vật chất hay tinh thần, và sản phẩm vật chất hay tinh thần đó phải có yếu tố “mới” và yếu tố “giá trị”.
Đây là tiền đề quan trọng để đưa ra quan niệm về bản chất của sáng tạo một cách đầy đủ hơn, sâu sắc hơn.2 Định nghĩa khái niệm “sáng tạo” Sáng tạo là hoạt động có mục đích, có ý thức nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Sáng tạo có quan hệ chặt chẽ với “vấn đề” mặc dù không đồng nhất với “vấn đề”. Để hiểu rõ khái niệm “sáng tạo” và bản chất của sáng tạo thì trước hết cần phân tích khái niệm “vấn đề” và “vấn đề sáng tạo”.