Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) với tư cách thành viên thứ 150, hàng rào thuế quan và sự bảo hộ của Nhà nước dần được gỡ bỏ, đặt các sản phẩm nội địa trước sức ép cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia có nền công nghệ hiện đại. Cả nước hiện có khoảng 350.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), chiếm tới 98% tổng số doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký xấp xỉ 1.400 nghìn tỷ đồng, trong đó khu vực công nghiệp chiếm khoảng 22,5%. Tuy nhiên, phần lớn các DNNVV đang đối mặt với những điểm nghẽn nghiêm trọng: quy mô vốn bình quân chỉ đạt khoảng 4 tỷ đồng một doanh nghiệp, công nghệ sản xuất lạc hậu, chất lượng sản phẩm chưa cao và năng lực tài chính hạn chế.

Đề tài nghiên cứu "Sử dụng công cụ tài chính khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ (Nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Thanh Hóa)" được thực hiện nhằm giải quyết bài toán cấp bách về cơ chế thúc đẩy đổi mới công nghệ tại địa phương. Mục tiêu trọng tâm của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về công nghệ và công cụ tài chính, đánh giá toàn diện hiện trạng đổi mới công nghệ của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chính sách tài chính khả thi, tập trung vào Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ cùng dịch vụ cho thuê tài chính.

Phạm vi nghiên cứu được xác định tại 27 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế điều tiết kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn vốn ngân sách và khai thác hiệu quả các kênh vốn phi ngân hàng. Kết quả nghiên cứu hướng tới mục tiêu gia tăng tỷ lệ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao 15-20% năng suất lao động và tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế bền vững của địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết đổi mới công nghệ của Joseph Schumpeter với 5 dạng thức đổi mới căn bản, kết hợp cùng hướng dẫn đo lường hoạt động đổi mới theo Cẩm nang Oslo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đồng thời, luận văn tiếp cận lý thuyết phân tích chính sách và chính sách khoa học và công nghệ (KH&CN) theo quan điểm hệ thống của GS.TS. Vũ Cao Đàm, nhấn mạnh việc tạo lập các biện pháp ưu đãi có giá trị pháp lý nhằm kích thích động cơ của các chủ thể kinh tế hướng tới trạng thái cân bằng lợi ích (cân bằng Nash).

Hệ thống khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa xuyên suốt nghiên cứu bao gồm:

  • Công nghệ: Hệ thống kiến thức, quy trình, bí quyết kỹ thuật kết hợp phương tiện vật chất dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 và Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006.
  • Đổi mới công nghệ: Sự chủ động thay thế một phần cốt lõi hoặc toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng công nghệ tiên tiến hơn nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành.
  • Công cụ tài chính hỗ trợ công nghệ: Tập hợp các phương thức phân bổ và điều tiết vốn gồm chi ngân sách nhà nước, Quỹ phát triển KH&CN theo Điều 60 và Điều 61 Luật KH&CN năm 2013, tín dụng ngân hàng thương mại, dịch vụ cho thuê tài chính và chính sách ưu đãi thuế.
  • Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Cơ sở kinh doanh được phân định theo quy mô tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc số lao động bình quân không quá 300 người theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Cục Thống kê, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thanh Hóa cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan giai đoạn 2010-2014. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu khảo sát định lượng phát trực tiếp tới 60 doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cỡ mẫu 60 doanh nghiệp được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp định ngạch, phân bổ đại diện tại 27 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Thanh Hóa, bao trùm các thành phần kinh tế từ công nghiệp chế biến, xây dựng đến dịch vụ thương mại.

Phương pháp phân tích số liệu kết hợp giữa thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm và tổng hợp định lượng bằng phần mềm Microsoft Excel. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này xuất phát từ tính chất phức tạp của các giao dịch tài chính vi mô, đòi hỏi sự đối chiếu trực tiếp giữa các chỉ số định lượng về quy mô vốn, doanh thu, cơ cấu thiết bị với các chỉ báo định tính về nhận thức chính sách và rào cản tiếp cận tín dụng. Khung thời gian thực hiện nghiên cứu, thu thập và xử lý toàn bộ dữ liệu khảo sát được triển khai liên tục từ năm 2010 đến cuối năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế trên 60 doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thanh Hóa giai đoạn 2010-2014 mang lại những phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, quy mô vốn hạn chế cản trở nghiêm trọng năng lực tự đầu tư công nghệ. Hơn 90% số doanh nghiệp được khảo sát có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, cá biệt nhiều doanh nghiệp siêu nhỏ hoạt động với mức vốn dưới 1 tỷ đồng. Do tiềm lực tài chính mỏng, mức đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) của các doanh nghiệp chỉ chiếm chưa đầy 0,5% doanh thu hàng năm, khiến hơn 70% máy móc, dây chuyền sản xuất rơi vào tình trạng lạc hậu thế hệ so với tiêu chuẩn khu vực.

Thứ hai, rào cản tài sản bảo đảm làm suy giảm hiệu quả của kênh tín dụng thương mại. Mặc dù nhu cầu vay vốn trung và dài hạn để đổi mới thiết bị là rất lớn, nhưng có tới 75% doanh nghiệp được khảo sát không tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng do thiếu tài sản thế chấp đạt chuẩn. Các ngân hàng thương mại áp dụng quy chế thẩm định an toàn vốn nghiêm ngặt, chỉ giải ngân tối đa 70-80% giá trị phương án và bắt buộc phải có bất động sản bảo đảm.

Thứ ba, sự thiếu vắng của Quỹ phát triển KH&CN địa phương và các quỹ mạo hiểm. Có đến 100% doanh nghiệp khảo sát chưa từng nhận được bất kỳ khoản tài trợ hay vốn vay ưu đãi nào từ Quỹ phát triển KH&CN tỉnh, do quỹ chưa được vận hành đầy đủ theo quy định của Luật KH&CN năm 2013. Tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận được vốn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm hoàn toàn bằng 0%.

Thứ tư, tiềm năng của dịch vụ cho thuê tài chính bị bỏ ngỏ. Hơn 85% chủ doanh nghiệp thừa nhận chưa nắm rõ cơ chế hoạt động của dịch vụ cho thuê tài chính, dù hình thức này cho phép tài trợ đến 100% giá trị máy móc mà không đòi hỏi thế chấp bất động sản, đồng thời mang lại lợi ích tấm chắn thuế thu nhập doanh nghiệp rõ rệt.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên phản ánh sự đứt gãy giữa định hướng chính sách vĩ mô và cơ chế thực thi tại cấp địa phương. Nguyên nhân sâu xa nằm ở sự xung đột giữa bản chất rủi ro cao của hoạt động đổi mới công nghệ với nguyên tắc bảo toàn vốn của các ngân hàng thương mại, đúng như nhận định của các công trình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam về chính sách tài chính KH&CN. Các chính sách hỗ trợ theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP tuy phong phú nhưng năng lực phân bổ nguồn lực của địa phương còn phân tán, thủ tục hành chính phức tạp và thiếu sự phối hợp liên ngành giữa tài chính, ngân hàng và KH&CN.

Về phương thức biểu đạt, các kết quả khảo sát từ 60 doanh nghiệp này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện cơ cấu nguồn vốn tài trợ đổi mới công nghệ (với tỷ trọng áp đảo của vốn tự có trên 80% so với vốn tín dụng dưới 20%), kết hợp cùng bảng thống kê so sánh mức độ hiện đại của máy móc thiết bị theo từng ngành nghề kinh tế. Qua đó, dữ liệu làm sáng tỏ tính ưu việt của mô hình cho thuê tài chính và Quỹ phát triển KH&CN như những giải pháp đột phá thay thế cho kênh tín dụng truyền thống đang bị tắc nghẽn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, luận văn đưa ra hệ thống các giải pháp chính sách tài chính mang tính hành động cao:

Một là, thành lập và đưa vào vận hành thực chất Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ tỉnh Thanh Hóa. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa chủ trì phối hợp cùng Sở KH&CN và Sở Tài chính bố trí vốn điều lệ ban đầu tối thiểu 30-50 tỷ đồng từ nguồn ngân sách địa phương trong giai đoạn 2015-2017. Quỹ có nhiệm vụ triển khai cơ chế tài trợ và cho vay ưu đãi lãi suất thấp cho 20-30 dự án đổi mới công nghệ tiêu biểu của DNNVV mỗi năm, giảm bớt 50% yêu cầu về tài sản thế chấp thông qua hình thức tín chấp bằng phương án công nghệ khả thi.

Hai là, phát triển thị trường cho thuê tài chính máy móc thiết bị hiện đại. Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh thúc đẩy sự hiện diện của 2-3 công ty cho thuê tài chính lớn trên địa bàn. Mục tiêu trong giai đoạn 2016-2020 nâng tỷ lệ DNNVV sử dụng dịch vụ cho thuê tài chính lên mức 30-40%, giúp doanh nghiệp sở hữu dây chuyền công nghệ cao với mức tài trợ 100% chi phí mua sắm thiết bị mà không cần thế chấp tài sản.

Ba là, hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế và cơ chế trích lập quỹ nội bộ. Cục Thuế tỉnh Thanh Hóa ban hành tài liệu hướng dẫn cụ thể việc cho phép DNNVV trích tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm để lập Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp theo quy định tại Luật KH&CN năm 2013. Đồng thời, áp dụng chính sách giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2-3 năm đầu cho các dự án ứng dụng công nghệ thân thiện với môi trường, giúp doanh nghiệp tiết kiệm 15-20% chi phí tài chính.

Bốn là, thiết lập cơ chế bảo lãnh tín dụng và bù lãi suất công nghệ. Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn xây dựng gói tín dụng ưu đãi chuyên biệt quy mô 500 tỷ đồng, thực hiện hỗ trợ bù lãi suất từ 2-3% mỗi năm cho các khoản vay trung - dài hạn đầu tư vào tự động hóa và đổi mới quy trình sản xuất của DNNVV.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương, bao gồm Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng Ủy ban nhân dân các cấp. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng để thiết kế cơ chế tài chính công, xây dựng điều lệ Quỹ phát triển KH&CN cấp tỉnh và ban hành các gói trợ cấp công nghệ đúng đối tượng.

Thứ hai, chủ doanh nghiệp, giám đốc điều hành và giám đốc tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Luận văn cung cấp cẩm nang chiến lược về cấu trúc nguồn vốn, chỉ dẫn cách thức khai thác nguồn vốn tài trợ 100% từ kênh cho thuê tài chính, tận dụng tấm chắn thuế và quy trình trích lập 10% lợi nhuận vào quỹ KH&CN nội bộ để giảm thiểu chi phí đầu tư thiết bị.

Thứ ba, các tổ chức tín dụng thương mại và công ty cho thuê tài chính. Nghiên cứu cung cấp bức tranh chi tiết về nhu cầu vốn công nghệ của 60 doanh nghiệp thuộc 27 địa bàn hành chính, giúp các tổ chức tài chính thiết kế các sản phẩm cho vay công nghệ và hợp đồng thuê mua máy móc phù hợp với đặc thù sản xuất địa phương.

Thứ tư, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản lý Kinh tế và Tài chính - Ngân hàng. Luận văn đóng vai trò như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa khung lý thuyết chính sách công với kỹ thuật phân tích tài chính doanh nghiệp vi mô tại một địa bàn cấp tỉnh điển hình.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thanh Hóa gặp trở ngại lớn nhất nào khi vay vốn ngân hàng để đổi mới công nghệ? Trở ngại lớn nhất là thiếu tài sản bảo đảm đạt chuẩn theo yêu cầu của ngân hàng thương mại. Hơn 90% DNNVV tại địa phương có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, tích lũy tài sản thấp. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại chỉ cho vay tối đa 70-80% giá trị dự án và yêu cầu bắt buộc phải thế chấp bất động sản, khiến 75% doanh nghiệp khảo sát không thể tiếp cận vốn vay trung - dài hạn cho công nghệ.

Dịch vụ cho thuê tài chính hỗ trợ giải quyết bài toán vốn công nghệ cho doanh nghiệp như thế nào? Cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn cho phép doanh nghiệp được tài trợ tới 100% giá trị máy móc mà không cần thế chấp tài sản hay ký quỹ bảo đảm. Doanh nghiệp vừa bảo toàn được vốn lưu động, vừa được hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế do chi phí thuê tài sản được khấu trừ trực tiếp vào chi phí trước thuế thu nhập doanh nghiệp.

Căn cứ pháp lý nào quy định về việc trích lập và sử dụng Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp? Căn cứ Điều 63 Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, các doanh nghiệp được phép trích một tỷ lệ tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm để lập Quỹ phát triển KH&CN của chính mình. Khoản trích này được hạch toán vào chi phí hợp lý khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp, tạo nguồn tài chính tự chủ cho hoạt động mua sắm công nghệ và đào tạo nhân lực kỹ thuật.

Tại sao các chính sách ưu đãi tài chính cho đổi mới công nghệ trước đây chưa phát huy hiệu quả cao tại địa phương? Nguyên nhân chủ yếu do sự xung đột giữa cơ chế quản lý tài chính công nghiêm ngặt và tính chất rủi ro đặc thù của hoạt động KH&CN. Năng lực tài chính của địa phương còn hạn chế, các quỹ hỗ trợ chưa được thành lập kịp thời, thủ tục hành chính phức tạp và công tác phổ biến chính sách chưa sâu rộng, khiến hơn 85% doanh nghiệp khảo sát không tiếp cận được các gói hỗ trợ.

Doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ có đủ điều kiện thụ hưởng các chính sách tài chính đổi mới công nghệ không? Có. Theo phân loại tại Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, doanh nghiệp siêu nhỏ có dưới 10 lao động hoàn toàn thuộc đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV. Các doanh nghiệp này được tiếp cận các chương trình đào tạo kỹ thuật, hỗ trợ thủ tục sở hữu trí tuệ và có thể sử dụng dịch vụ cho thuê tài chính để hiện đại hóa từng công đoạn sản xuất.

Kết luận

Nghiên cứu đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu đề ra với các kết quả nổi bật:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về đổi mới công nghệ và các công cụ tài chính theo chuẩn mực quốc tế và pháp luật Việt Nam.
  • Đánh giá thực chứng hiện trạng công nghệ và rào cản tài chính của 60 DNNVV tại 27 đơn vị hành chính tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010-2014.
  • Khẳng định tính tất yếu của việc chuyển dịch từ cơ chế tín dụng thế chấp truyền thống sang kênh cho thuê tài chính và Quỹ phát triển KH&CN địa phương.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp tài chính đồng bộ, gắn liền với các mốc chỉ tiêu định lượng cụ thể từ nguồn vốn ngân sách đến nguồn vốn tư nhân.
  • Cung cấp mô hình tham chiếu thực tiễn cho công tác quản trị công nghệ và phân bổ nguồn lực kinh tế tại địa bàn cấp tỉnh.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là chứng minh tính khả thi của dịch vụ cho thuê tài chính như một đòn bẩy vốn then chốt không cần thế chấp, giúp giải phóng năng lực đổi mới cho khối DNNVV.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2016 trở đi, các cơ quan ban ngành tỉnh Thanh Hóa cần nhanh chóng thể chế hóa các quy chế vận hành Quỹ phát triển KH&CN cấp tỉnh và tạo môi trường pháp lý minh bạch. Các chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa cần chủ động xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ rõ ràng, nắm bắt các công cụ tài chính hiện đại để tạo dựng lợi thế cạnh tranh bền vững trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu.