CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH LỄ HỘI VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH LỄ HỘI TẠI HUẾ 1. Tổng quan về du lịch lễ hội 1. Lễ hội và du lịch lễ hội 1. Lễ hội Khái niệm chung về Lễ hội Lễ hội: “Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là một dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thồng, hoặc là giải quyết những nỗi lo âu, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống hiện tại chưa giải quyết được” [29 trang 67] “Lễ hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống của cộng đồng” Lễ hội là nhu cầu sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đồng thời là sự kiện có thể thu hút đông đảo khách du lịch.
Khi bàn về khái niệm, mối tương quan giữa lễ hội và sự kiện, các chuyên gia có cho rằng “Lễ hội là thuật ngữ dùng để chỉ một loại hình sinh hoạt văn hóa phổ biến, có thể tổng hợp nhiều loại hình văn hóa khác nhau (văn học nghệ thuật, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán.) qua hình thức sân khấu hóa hoặc cảnh diễn hóa. tại một địa điểm, một không gian - thời gian nhất định bằng những nghi thức, nghi vật, nghi trượng. Lễ hội sản sinh từ nhu cầu tất yếu của lịch sử. Lễ hội không đặt nặng vấn đề kinh tế trong khi du lịch thì ngược lại.
Lễ hội truyền thống: GS. Nguyễn Duy Qúy có định nghĩa về lễ hội truyền thống như sau “Lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hóa tổng hợp bao gồm các 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mặt tinh thần và vật chất, tôn giáo tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng và đời thường. Đó còn là một sinh hoạt có qui mô lớn về tầm vóc và có sức cuốn hút một số lượng lớn những hiện tượng của đời sống xã hội.” - Lễ hội truyền thống bao giờ cũng xuất phát từ nhu cầu nội tại của con người, hướng tới một đối tượng cụ thể để suy tôn và được chú trọng về không gian lễ hội. - Bản sắc văn hóa Việt Nam mang đậm chất văn hóa làng.
Lễ hội truyền thống là điển hình của sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống. - Bản chất và nội dung của “lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Dù bất cứ nơi đâu vào bất cứ thời gian nào, lễ hội cũng do chính nhân dân tiến hành. Không bao giờ lễ hội chỉ thuộc về một nhóm người nào đó trong xã hội” Lễ hội truyền thống xưa nhấn mạnh phần lễ.
Lễ hội truyền thống nay nhấn mạnh phần hội. * Lễ hội hiện đại: Do nhu cầu của cuộc sống và sự phát triển văn hóa xã hội. Các địa phương tổ chức các lễ hội hướng đến sự kiện cụ thể. Trong sinh hoạt lễ hội có sự tham gia của các sinh hoạt văn hóa bên ngoài du nhập vào, trong lễ hội phần “hội” được chú trọng, nội dung đan xen giữa truyền thống và hiện đại.
Đây cũng là hoạt động có tính tương tác cao giữa địa phương và khách du lịch, là yếu tố thúc đẩy hoạt động “du lịch lễ hội” phát triển. *Lễ hội du lịch: Đây là một loại “lễ hội hiện đại (lễ hội mới) do ngành du lịch chủ động phối hợp với các ngành xã hội khác nhau đứng ra tổ chức, nhằm tạo ra sản phẩm hoặc tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du lịch” Huế từng tổ chức “lễ hội bếp Việt”, “lễ hội làng nghề truyền thống”, “lễ hội áo dài”, đặc biệt “lễ hội Festival” định kỳ 2 năm tổ chức một lần. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đặc điểm lễ hội - Tổ chức định kỳ hoặc một thời điểm duy nhất, có tính lặp lại thường xuyên. - Mang đậm tính chất lễ hội nông nghiệp nhưng không phải nông nghiệp thuần túy.
- Chịu ảnh hưởng của văn hóa, lịch pháp Trung Hoa nhưng đã có những chuyển dịch thay đổi về thời gian và nội dung, hình thức thể hiện. Phân loại lễ hội Lễ hội là một bộ phận của nền văn hóa dân gian được sáng tạo và bảo tồn, lưu truyền lâu đời trong lòng xã hội từ xưa đến nay. Việt Nam là quốc gia đa sắc tộc và đa lễ hội, tùy theo mỗi góc độ, mục đích, quan điểm nghiên cứu mà có sự phân loại lễ hội khác nhau và trong các loại lễ hội được phân ra cũng sẽ có những cấp độ lễ hội khác nhau. Các hình thức phổ biến của lễ hội và sự kiện trong lịch sử: Căn cứ vào nơi tổ chức: Hội chùa, Hội đình.
Tất cả dều ảnh hưởng, mang tính chất lễ hội nông nghiệp. Nguồn gốc lễ hội: Hình thành và phát triển cùng với lịch sử dân tộc, đất nước, phản ánh đời sống của cư dân nông nghiệp lúa nước. “Tháng Giêng ăn tết ở nhà, tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè” Căn cứ vào nội dung phản ánh: Lễ hội nông nghiệp. Lễ hội danh nhân, anh hùng lịch sử.
Lễ hội tôn giáo tín ngưỡng. Căn cứ vào hoạt động tổ chức trong lễ hội: Có lễ hội truyền thống, lễ hội hiện đại hoặc lễ hội cung đình, lễ hội dân gian (thực ra lễ hội cung đình và lễ hội dân gian thuộc về lễ hội truyền thống) - Lễ hội truyền thống: Có lễ hội truyền thống dân gian, lễ hội truyền thống cung đình. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Lễ hội truyền thống dân gian là một loại hình sinh hoạt văn hóa, xã hội của quần chúng nhân dân lao động ở một cộng đồng, địa phương nhất định mang đậm tính chất tổng hợp các hình thái tư tưởng, tín ngưỡng, phong tục tập quán… của cộng đồng địa phương đó. Nhìn chung Lễ hội truyền thống dân gian có sự lặp đi lặp lại một cách ổn định về thời gian, không gian hội, sự định kỳ ngày hội.
Ngày nay với chủ trương phát triển văn hóa kết hợp với du lịch. Lễ hội truyền thống dân gian ngày càng được quan tâm chú trọng để phát triển và gìn giữ bản sắc văn hóa địa phương, Lễ hội được đông vui hơn… nhằm mục đính chuyển tải truyền thống và nội dung giáo dục của ngày hội đến các thế hệ nối tiếp, đồng thời giới thiệu, gìn giữ, phát triển những tinh hoa của lễ hội truyền thống dân gian. - Lễ hội cung đình: Lễ hội cung đình phản ánh sinh hoạt lễ nghi của triều Nguyễn, phần lớn chỉ chú trọng về “lễ” hơn “hội”. “Lễ hội cung đình diễn ra trong cung đình dưới triều Nguyễn (1802 - 1945).
Hầu hết là những đại lễ của triều đình như lễ tế Nam Giao, lễ tế Văn Miếu, lễ tế Xã Tắc, lễ tế Thái Miếu, lễ tế Thế Miếu, lễ Tịch Điền, lễ tế Kỳ Đạo, lễ khai trạo của thủy quân, lễ đăng quang, lễ mừng thọ tứ tuần, ngũ tuần của hoàng đế, hoàng hậu, và lễ Hưng quốc Khánh niệm (mồng 2 tháng 5 âm lịch).vn) - Lễ hội dân gian: là một sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặt: Tôn giáo tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, tinh thần và cả vật chất, linh thiêng và đời thường. Lễ hội dân gian gồm nhiều loại rất phong phú, tiêu biểu như: lễ hội Huệ Nam ở Điện Hòn Chén hay còn gọi là lễ rước sắc nữ thần Pônagar theo tín ngưỡng của người Chăm Pa sau này được Việt hóa Thiên y A na, lễ hội tưởng niệm các vị khai sinh các ngành nghề truyền thống, lễ hội tưởng nhớ các vị khai 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com canh thành lập làng. Trong những dịp tế lễ, nhiều sinh hoạt văn hóa bổ ích như đua thuyền, kéo co, đấu vật. còn được tổ chức và thu hút đông người xem.
Căn cứ vào không gian (phạm vi) của lễ hội: Có lễ hội quốc gia (cả nước), Lễ hội vùng, lễ hội làng. - Lễ hội quốc gia: như Giỗ tổ Hùng Vương, các ngày lễ kỷ niệm chiến thắng. - Lễ hội vùng: Là loại hội lễ có tầm thu hút ảnh hưởng rộng lớn, mang tính chất tiêu biểu, sự tham gia của cả vùng. - Lễ hội làng: Đa số gắn với tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp.
Diễn ra tại Đình làng, Miếu, Đền, Lăng… “Đó là một hình thức sinh hoạt văn hóa định kỳ, cộng đồng tổng hợp và tiêu biểu nhất của xã hội nông thôn ở đơn vị làng” [41trang 15] Bao gồm: + Lễ hội thờ đức Thành Hoàng: Diễn ra ở các đình làng, còn gọi là hội đình hay đình đám. + Lễ hội thờ các nhân vật lịch sử: Đa số diễn ra ở các Lăng, Đền thờ các vị có công với nước. + Lễ hội thờ cúng Cá Voi: Diễn ra tại các làng ven biển + Lễ - Hội Tết: Đây là sinh hoạt mang tính cộng đồng cao. Là một loại hội mùa gắn với các nghi lễ của tín ngưỡng dân gian hoặc tôn giáo dựa theo âm lịch như lễ tết Nguyên Đán.
+ Lễ hội tôn giáo: Gắn liền với những cộng đồng tín đồ tôn giáo đồng thời cũng là dịp hội họp, sinh hoạt văn hóa quần chúng của nhân dân sở tại. Các loại hình lễ hội tông giáo đó là: Lễ hội rằm tháng bảy hay còn gọi lễ vu lan; Lễ hội Phật đản; Lễ thiên chúa giáo (Lễ Noel, lễ Phục sinh.) 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Lễ hội các dân tộc ít người: Mang màu sắc nghiêng về tâm lý, tín ngưỡng, phong tục tập quán…của các cộng đồng người dân tộc. + Lễ hội Vùng + Lễ hội gia đình (cưới, tang, giỗ…) Căn cứ vào thời gian tổ chức Lễ hội: Có Lễ hội mùa xuân, lễ hội mùa Thu. Căn cứ vào mục đích, tính chất của lễ hội: - Lễ hội thờ Tổ nghiệp truyền thống (Kim hoàn, Sân khấu, nghề may…) - Lễ hội thờ cá voi (ngư dân miền biển) - Lễ hội tôn giáo (Phật Đản, Noel, lễ hội thờ Mẫu - Nữ thần.) Ngoài ra tùy theo hoạt động của lễ hội, mục đích lễ hội và tùy từng địa phương mà có cách gọi tên khác nhau về lễ hội như: Lễ hội tôn vinh các vị thần; Lễ hội làng nghề; Lễ hội văn hóa (ví dụ như lễ hội văn hóa các dân tộc ít người.) Chức năng của lễ hội - Gắn kết cộng đồng, nơi thể hiện đời sống tinh thần của cộng đồng.
- Không gian thể hiện sự sáng tạo của cá nhân cộng đồng.