Chương 1 LÍ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ VÀ TƯ DUY Ở TRẺ 1 – 3 TUỔI 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu nước ngoài về ngôn ngữ, tư duy và mối quan hệ giữa chúng ở trẻ từ 1 – 3 tuổi Vấn đề về tư duy và ngôn ngữ; cũng như mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ đã được nghiên cứu từ rất sớm. Và, vấn đề mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ không chỉ là mối quan tâm ở trong tâm lí học mà cả trong logic học và ngôn ngữ học.
Theo đó, có hai quan điểm cơ bản thường được phát biểu và ủng hộ nhiều hơn cả trong lĩnh vực này là: - Quan điểm thứ nhất, là quan điểm cho rằng tư duy và ngôn ngữ là đồng nhất (tư duy là ngôn ngữ thầm, là “ngôn ngữ trừ đi âm thanh”). - Quan điểm thứ hai, là quan điểm cho rằng tư duy và ngôn ngữ chỉ gắn bó bề ngoài với nhau (ngôn ngữ là lớp vỏ bên ngoài của tư duy, là phương tiện biểu hiện các ý nghĩ có sẵn nảy sinh bên ngoài hình thái các từ và các hình tượng cảm tính). Trong tâm lý học hiện đại, biểu hiện của quan điểm thứ nhất là cách giải thích theo chủ nghĩa hành vi coi tư duy là kĩ xảo ngôn ngữ vận động; còn biểu hiện của quan điểm thứ hai là những lí luận khác nhau về tư duy “thuần túy” do trường phái Vuxbua sản sinh ra. Xôkôlôv trong tác phẩm “Ngôn ngữ bên trong và tư duy” đã cho rằng: chúng ta thiên về việc gán cho hành động tư duy có 1 sự độc lập hoàn toàn đối với ngôn ngữ, nếu như một cá thể thành thạo được hoặc có khả năng thành thạo được các khái niệm của mình mà không cần sự hướng dẫn bằng lời từ phía hoàn cảnh xung quanh.
Rất có thể là tình trạng trí tuệ của cá thể như vậy, phát triển trong những điều kiện như vậy sẽ rất là nghèo nàn. Như vậy, chúng ta có thể kết luận rằng, sự phát triển trí tuệ của cá thể và con đường hình thành các khái niệm của cá thể này phụ thuộc rất nhiều vào ngôn ngữ. Điều này làm cho chúng ta hiểu được rằng sự phát triển của ngôn ngữ đồng thời cũng là phương 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiện của sự phát triển trí tuệ. Hiểu theo nghĩa này thì tư duy và ngôn ngữ là có liên hệ lẫn nhau.
[26; tr 77 - 78] Thật vậy, việc phân tích lịch sử - xã hội vấn đề tư duy và ngôn ngữ theo các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã làm bộc lộ ra tính không có căn cứ khoa học của các quan niệm như trên, đã làm bộc lộ ra đặc tính máy móc và duy tâm của các quan niệm đó và đã xác lập được mối liên hệ lẫn nhau giữa ngôn ngữ và tư duy, xác lập được sự thống nhất không thể tách rời được của ngôn ngữ và tư duy trong quá trình giao tiếp và hoạt động nhận thức của con người. Nảy sinh ra như là phương tiện để giao tiếp và hiểu biết lẫn nhau, ngôn ngữ đồng thời cũng trở thành phương tiện tư duy. Nó khái quát hóa và ghi lại kinh nghiệm xã hội của con người và lời người ở dạng các khái niệm, phán đoán và suy luận. Mặt khác, tư duy thể hiện ra như là phương tiện để hình thành và phát triển các ý nghĩ đó, như là phương tiện để phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa các sự vật hiện tượng của hiện thực.
Các nhà tâm lí học Liên Xô cũng đã đề cập đến vấn đề tư duy và mối quan hệ của nó với ngôn ngữ trong tác phẩm ''Tâm lí học" như sau: Tư duy nảy sinh trên cơ sở phản xạ định hướng ở lứa tuổi nhỏ mang tính chất thực tiễn (giống như hành động của khỉ). Mức độ sớm nhất về tư duy của trẻ được thể hiện như sau: - Các em giải được các bài “toán” rất trực quan (các trò chơi, rút dây giày, luồn các dây nhỏ qua lỗ nhỏ…). - Các bài “toán” bắt đầu xuất hiện như “một cái mồi”. Nó lôi cuốn đứa trẻ ngay từ khi các em mới được nửa năm.
Bài “toán” được người lớn nêu lên thành câu hỏi hoặc thành các mệnh lệnh làm tăng tính mục đích và tính hợp lí trong các hoạt động trước đây không theo trật tự nào của đứa trẻ. Điều đó nói lên hoạt động tư duy điển hình của con người. - Bài “toán” được giả bằng hành động thực tế, bằng con đường phân tích thực tế các đối tượng hoàn chỉnh và kết hợp các bộ phận của chúng lại với nhau. - Trẻ em ngay cả khi giải đúng bằng hành động một bài “toán” thực tế đơn giản, các em cũng không nói nhiều về những cách thức mà các em đã sử dụng.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việc nắm vững ngôn ngữ thể hiện trước hết đứa trẻ phải hiểu được, sau đó nói lên lời, tích lũy nhanh chóng kinh nghiệm đời sống thực tế, đảm bảo cho sự phát triển tư duy sau này của đứa trẻ. [12] Vậy, giữa tư duy và ngôn ngữ có mối liên hệ lẫn nhau. Mối quan hệ này cũng được thể hiện ngay cả ở tư duy và ngôn ngữ của trẻ em. Và nội dung này vẫn luôn có được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.
Các tác giả đã và đang tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra những kết luận của mình. Trong đó, phải kể đến các tác giả nổi bật sau: * Jean Piaget (1896 – 1980), là một nhà tâm lý học nổi tiếng người Thụy Sĩ. Tên tuổi của ông được biết đến trên toàn thế giới vì những cống hiến to lớn của ông cho nền tâm lý học và giáo dục học thế kỉ XX. Suốt cuộc đời nghiên cứu khoa học miệt mài, J.
Piaget đã để lại một di sản khổng lồ các công trình nghiên cứu được ghi chép bằng số liệu tỉ mỉ và một kho tàng các tác phẩm nổi tiếng như “Ngôn ngữ và tư duy của trẻ” (1923), “Tâm lí học trí khôn” (1946), “Tâm lí học trẻ em” (1966)… Những thành tựu nghiên cứu về sự phát sinh, phát triển trí tuệ của trẻ em mà ông phát hiện ra là một trong những đóng góp lớn nhất cho sự phát triển tâm lý học thế kỷ XX. Mối quan tâm lớn nhất của Piaget là cấu trúc trí tuệ và quá trình phát sinh phát triển trí tuệ của trẻ em như thế nào? Theo ông, trí tuệ của cá nhân phát triển từ thấp đến cao được tuân theo trật tự chặt chẽ. Đây không phải là trật tự thời gian mà là trật tự kế tiếp, mọi cá nhân phát triển bình thường đều phải tuân theo trật tự đó. Đồng thời quá trình phát triển này theo hai quy luật: tăng trưởng liên tục, từng tí một và phát triển nhảy vọt.
Chính sự nhảy vọt cho ta khái niệm giai đoạn. Piaget cho rằng mỗi lứa tuổi có đặc trưng riêng về chất lượng trí tuệ và được coi là một giai đoạn phát triển. Một giai đoạn trí tuệ có những đặc trưng sau: - Thứ nhất, các thành tựu trí tuệ giai đoạn này là sự kế tiếp giai đoạn trước - Thứ hai, các thành tựu của gia đoạn này cũng là sự thống hợp các cấu trúc đã có từ giai đoạn trước - Thứ ba, mỗi giai đoạn là một cấu trúc tổng thể các sơ đồ chứ không phải là sự xếp chồng các sơ đồ lên nhau 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thứ tư, mỗi giai đoạn đều gồm các cấu trúc đã có, đang có và các yếu tố chuẩn bị cho giai đoạn tiếp sau. Dựa vào các tiêu chuẩn trên, sắp xếp các dữ kiện, Piaget chia quá trình phát triển trí tuệ của trẻ em thành các giai đoạn lớn: - Giai đoạn cảm giác - vận động, gọi tắt là giai đoạn giác - động(từ 0 đến 1.5 tuổi hay 2 tuổi).
Piaget đã chia sự hình thành và phát triển tư duy trong giai đoạn giác – động làm 6 thời kì nhỏ: + Thời kì 1 (0 - 1 tháng): Các phản xạ có tính chất bẩm sinh - phản xạ bú, được phát động do sự kích thích của môi trường và chúng càng được lặp lại càng có hiệu lực hơn. Từ đó hình thành sơ cấu cảm giác và cử động. Sự lặp lại các phản xạ bú tạo ra phản ứng vòng tròn sơ cấp. + Thời kì 2 (1 - 4 tháng): hình thành tri giác và thói quen vận động, qua điều kiện hoá các phản xạ đã có theo các tương tác của môi trường (động tác mút khi nhìn thấy bầu sữa v.
+ Thời kì 3 (4 - 8 tháng): phản ứng vòng tròn thứ cấp được thiết lập do sự lặp lại các cư xử (các phản ứng) phối hợp giữa hệ thống tự giác với các sơ cấu vận động (lặp lại các hành vi kéo sợi dây làm lắc quả chuông để phát ra tiếng kêu. + Thời kì 4 (8 - 12 tháng): hình thành khả năng phối hợp phương tiện - mục đích (nhấc tay người lớn để lấy đồ chơi v.v…) Xuất hiện dấu hiệu của trí khôn, trên cơ sở sơ đồ mục đích - phương tiện. + Thời kì 5 (12 - 18 tháng): phát hiện ra các phương tiện mới, khả năng mục đích - phương tiện (kéo chiếu để cho búp bê lại gần. Kéo sợi dây để lấy vật v.
+ Thời kì 6 (18 - 24 tháng): phát sinh các “giải pháp sáng tạo” (hiện tượng bừng hiểu) trong ứng xử (tìm cách mở nắp hộp hoặc bao diêm lấy kẹo hay vật hấp dẫn nào đó v. Điều này chứng tỏ trẻ đã có sự nhập tâm các sơ đồ hành động và có sự phôi hợp các sơ đồ đó ở trong đầu. Nhiều nhà tâm lý học cho rằng, trẻ 2 tuổi đạt mức trí tuệ hành động, giống như trí tuệ của khỉ hình người trong các thực nghiệm của W. - Giai đoạn tiền thao tác(từ 1.5 tuổi hay 2 tuổi đến 7 tuổi) 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Giai đoạn thao tác cụ thể (từ 7 - 8 tuổi đến 11 - 12 tuổi) - Giai đoạn thao tác hình thức (từ sau 11- 12 tuổi) Về sự phát triển ngôn ngữ, Piaget cho rằng: ở đứa trẻ bình thường, ngôn ngữ xuất hiện gần như đồng thời với những hình thức khác của tư duy kí hiệu.