Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Cuộc vận động thanh niên miền Bắc của Đảng Lao động Việt Nam (1965 - 1975)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Quang Liệu thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Ngô Đăng Tri, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 62 22 56 01).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả khẳng định công tác vận động thanh niên là nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa chiến lược của Đảng Lao động Việt Nam. Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị đã nêu rõ vận động thanh niên là nhiệm vụ bảo đảm sự kế tục và phát triển của chế độ. Trong giai đoạn 1965 - 1975, miền Bắc thực hiện chuyển hướng xây dựng kinh tế cho phù hợp với hoàn cảnh đối phó chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ, đồng thời làm tròn nghĩa vụ hậu phương chi viện cho chiến trường miền Nam. Nhiều phong trào cách mạng như "Ba sẵn sàng", "Ba đảm đang", Thanh niên xung phong đã thu hút đông đảo lực lượng thanh niên tham gia. Tuy nhiên, các công trình trước đây chỉ đề cập công tác thanh vận dưới dạng lồng ghép trong lịch sử chiến tranh, phong trào địa phương hoặc góc độ lý luận chung, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc vận động thanh niên miền Bắc giai đoạn này dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác vận động thanh niên ở miền Bắc của Đảng từ năm 1965 đến năm 1975, từ đó rút ra nhận xét về đặc điểm, thành tựu, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử phục vụ công tác thanh vận trong giai đoạn hiện nay. Để đạt mục tiêu này, luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Tập hợp và hệ thống hóa tư liệu làm rõ quan điểm của Hồ Chí Minh (1965 - 1969) và Đảng Lao động Việt Nam về vai trò của thanh niên và cuộc vận động thanh niên thời kỳ 1965 - 1975.
- Phục dựng lại quá trình Đảng chỉ đạo công tác vận động thanh niên miền Bắc từ năm 1965 đến tháng 4 năm 1975.
- Nêu lên các đặc điểm, đánh giá các kết quả, rút ra những kinh nghiệm, đề xuất các giải pháp phục vụ công tác vận động thanh niên hiện nay của Đảng.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cuộc vận động thanh niên miền Bắc của Đảng thời kỳ 1965 - 1975, bao gồm chủ trương, biện pháp, kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng và những biểu hiện cụ thể của thanh niên miền Bắc trong giai đoạn này.
- Phạm vi nội dung: Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong cuộc vận động thanh niên miền Bắc, gồm bối cảnh lịch sử, các nhân tố tác động, vai trò của cấp ủy đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng.
- Phạm vi không gian: Địa bàn miền Bắc nước Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1965 đến tháng 4 năm 1975, mốc kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án phân chia các công trình nghiên cứu liên quan đã công bố thành 5 nhóm tài liệu chính:
| Nhóm tài liệu |
Các công trình và tác giả tiêu biểu |
Giới hạn nội dung và khoảng trống |
| Nhóm 1: Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước |
- Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tập II (1954 - 1975) (Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, 1995) - Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học (Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, 1995) - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) tập 1, 2, 3 (1995, 1996, 1997) - Sức mạnh chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (Viện Sử học, 1985) - Việt Nam con số và sự kiện 1945 - 1989 (1989) |
Phản ánh diện mạo toàn diện của cuộc kháng chiến; công tác thanh vận chỉ được đề cập gián tiếp qua bối cảnh và diễn biến phong trào quần chúng, chưa trình bày sâu chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng. |
| Nhóm 2: Nghiên cứu chung về công tác thanh vận |
- Quang Vinh (2002), Hồ Chí Minh về giáo dục và tổ chức thanh niên - Lê Duẩn (1984), Về xây dựng nền văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa - Lê Xuân Đồng (1964), Một vài vấn đề về phương pháp công tác của Đoàn thanh niên - Phạm Văn Đồng (1969), Đào tạo thế hệ trẻ của dân tộc thành những người chiến sĩ cách mạng dũng cảm, thông minh, sáng tạo - Hồ Chí Minh và nhiều tác giả (1966), Thanh niên với chủ nghĩa anh hùng cách mạng - Vũ Oanh (1995); Hồ Đức Việt (1996); Đặng Cảnh Khanh và Nguyễn Hồng Thanh (1997) |
Tập hợp các bài viết lý luận và chỉ đạo thực tiễn, phần lớn tập trung vào giai đoạn sau 1975 hoặc thời kỳ đổi mới; dung lượng nghiên cứu chuyên sâu về thanh vận thời kỳ 1965 - 1975 còn hạn chế. |
| Nhóm 3: Lịch sử công tác vận động thanh niên của Đảng |
- Vấn đề thanh niên nhìn nhận và dự báo, tập 1 (1994), tập 2 (1995) - Văn kiện Đảng về công tác thanh niên, tập II (1974) |
Hệ thống hóa các bài viết của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và tập hợp văn kiện Đảng từ 1954 đến 1975; nguồn tư liệu quý nhưng chưa khái quát đầy đủ quá trình chỉ đạo thực tiễn giai đoạn 1965 - 1975. |
| Nhóm 4: Phong trào thanh niên tiêu biểu (1965 - 1975) |
- Thanh niên trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước (1967) - Lịch sử Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên Việt Nam (1925 - 2007) (2007) - Lịch sử Thanh niên xung phong Việt Nam (1950 - 2001) (2002) - Lịch sử Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam... (1925 - 2004) (2004) - Lịch sử Đoàn các địa phương: Hà Nội (1986), Hà Tĩnh (1997), Hà Tây (1996), Thanh Hóa (1998) - Trần Kim Đỉnh, Ngô Đăng Tri (1995), Lịch sử phong trào thanh niên Đường sắt Việt Nam (1955 - 1995) |
Mô tả hoạt động cụ thể của từng địa phương, ngành nghề hoặc tổ chức riêng biệt; thiếu tính khái quát toàn diện về sự lãnh đạo của Trung ương Đảng đối với phong trào chung trên toàn miền Bắc. |
| Nhóm 5: Luận văn, luận án, bài báo khoa học |
- Phạm Đình Nghiệp (1996), Đề tài KTN 96-01 - Trần Quang Nhiếp (2004), kỷ yếu hội thảo khoa học - Tạp chí Thanh niên (1964 - 1975); Lê Văn Tu (1997); Nguyễn Hữu Đức (2003); Vũ Trọng Kim (1990); Hồng Lam (1973) - Nguyễn Thị Như Hoa, luận văn Thạc sĩ về phong trào "Ba sẵn sàng" ở Hà Nội (1964 - 1975) - Phạm Bá Khoa, luận án Tiến sĩ về thanh niên Thủ đô Hà Nội (1965 - 1975) - Phùng Thị Hiển (2009), luận án Tiến sĩ về công tác tuyên truyền, cổ động chính trị ở miền Bắc (1960 - 1975) |
Các luận văn, luận án đi sâu vào phạm vi địa bàn Hà Nội hoặc mảng tuyên truyền cổ động nói chung; chưa có công trình chuyên khảo nghiên cứu toàn diện sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc vận động thanh niên toàn miền Bắc thời kỳ 1965 - 1975. |
Vị trí của luận án: Kế thừa các tư liệu và kết quả của các công trình đi trước, luận án của tác giả Nguyễn Quang Liệu là công trình chuyên khảo đầu tiên thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng nghiên cứu có hệ thống và toàn diện toàn bộ chủ trương, quá trình chỉ đạo và kết quả của cuộc vận động thanh niên miền Bắc từ năm 1965 đến tháng 4 năm 1975.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án được xây dựng dựa trên các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của thế hệ trẻ và công tác vận động quần chúng thanh niên. Tác giả vận dụng quan điểm xem thanh niên là một tầng lớp xã hội đang phát triển về chính trị, đạo đức và thế giới quan, là lực lượng xung kích trong sản xuất và chiến đấu.
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài áp dụng phương pháp luận sử học Mác-xít. Hai phương pháp chủ đạo được kết hợp chặt chẽ là phương pháp lịch sử (tái hiện quá trình Đảng vận động thanh niên theo trình tự thời gian, gắn với từng bối cảnh cụ thể) và phương pháp lôgíc (khái quát các mối quan hệ bản chất, quy luật vận động, rút ra nhận xét và bài học kinh nghiệm). Ngoài ra, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành bao gồm:
- Phương pháp đồng đại và lịch đại nhằm so sánh các giai đoạn chuyển biến của phong trào.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tư liệu văn kiện và sự kiện lịch sử.
- Phương pháp thống kê, so sánh dữ liệu thực tế.
- Phương pháp khảo sát thực địa, phỏng vấn nhân chứng lịch sử nhằm bổ sung nguồn cứ liệu sống động.
Nguồn tư liệu sử dụng trong luận án bao gồm:
- Văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Đảng Lao động Việt Nam; các bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
- Các văn bản pháp quy của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam giai đoạn 1965 - 1975.
- Sách chuyên khảo, biên niên sự kiện về lịch sử Đảng, lịch sử phong trào thanh niên, Đoàn, Hội, Đội và lực lượng Thanh niên xung phong.
- Tư liệu, bài viết trên các báo và Tạp chí Thanh niên (1964 - 1975).
- Hiện vật, tài liệu lưu trữ tại Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Cách mạng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam và Bảo tàng Thế hệ trẻ Việt Nam.
- Nguồn tài liệu điều tra khảo sát thực tế và phỏng vấn các nhân chứng lịch sử của tác giả.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Yêu cầu mới của cách mạng Việt Nam đối với cuộc vận động thanh niên miền Bắc
Chương 1 tập trung phân tích quan điểm lý luận của Hồ Chí Minh và của Đảng về vai trò của thanh niên, đồng thời tổng kết bối cảnh lịch sử và yêu cầu công tác thanh vận từ năm 1954 đến năm 1965.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về thanh niên được tác giả hệ thống hóa thành 5 luận điểm cơ bản:
- Vận mệnh dân tộc và sự phát triển đất nước tùy thuộc vào sự giác ngộ cách mạng của thanh niên. Năm 1925 trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Người viết: "Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của người không sớm hồi sinh". Tháng 6/1925 Người lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên; tháng 9/1945 căn dặn học sinh nhân ngày khai trường; tháng 8/1947 khẳng định nước nhà thịnh hay suy phần lớn do thanh niên.
- Thanh niên là lực lượng to lớn, đội quân xung kích trên mọi mặt trận cách mạng theo phương châm "Việc gì khó có thanh niên, ở đâu khó có thanh niên".
- Thanh niên phải có tổ chức phù hợp; Đoàn thanh niên là cánh tay và đội hậu bị của Đảng, người phụ trách dìu dắt thiếu niên nhi đồng.
- Thanh niên phải tự giác rèn luyện, không ngừng học tập, có chí tiến thủ và xung phong gương mẫu, rèn luyện con người xã hội chủ nghĩa "vừa hồng vừa chuyên".
- Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là việc quan trọng và cần thiết, thực hiện chiến lược "Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người".
Về phía Đảng, luận án điểm lại đường lối thanh vận từ Hội nghị thành lập Đảng năm 1930, Nghị quyết Trung ương tháng 10/1930, Hội nghị Trung ương tháng 3/1931, Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) thành lập Đoàn Thanh niên Cứu quốc, Hội nghị thanh vận toàn quốc (6/1949), Đại hội II (1951), Nghị quyết đổi tên thành Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam (19/10/1955), Chỉ thị 49-CT/TW (17/9/1957) và Điều lệ Đảng thông qua tại Đại hội III (9/1960) quy định tại Điều 49, 50 về vai trò cánh tay đắc lực và đội hậu bị của Đoàn.
Trong giai đoạn khôi phục kinh tế 1954 - 1957, miền Bắc đối mặt với sự tàn phá nặng nề: 14 vạn ha đất bị bỏ hoang, hơn 10 vạn trâu bò bị giết hại, gần 10 triệu đồng bào không có nhà ở và việc làm; các thế lực thù địch cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam và phá hoại máy móc. Đảng đã vận động thanh niên tham gia hàn gắn vết thương chiến tranh:
- 36.000 thanh niên tình nguyện lên miền Tây xây dựng kinh tế - xã hội (1955 - 1957).
- 6 vạn thanh niên tình nguyện tham gia lao động tại các công trường; hàng triệu ngày công được huy động sửa chữa 6 công trình thủy nông lớn và hàng chục công trình vừa.
- Năm học 1957 - 1958 có 443 sinh viên và 1.039 học sinh trung cấp nông nghiệp được đào tạo.
- Phát động phong trào "Lao động kiến thiết Tổ quốc" trong công nghiệp với ba nội dung: làm việc đúng giờ, chống tham ô lãng phí, trau dồi nghề nghiệp. Nêu gương điển hình Đào Thị Hà cải tiến phương pháp xeo giấy nâng sản lượng từ 950 tờ lên 1.300 tờ.
Giai đoạn cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958 - 1960), Hội nghị Trung ương 14 (11/1958) và Hội nghị Trung ương 15 chỉ đạo tăng cường giáo dục lập trường giai cấp công nhân. Trung ương Đoàn tổ chức đợt giáo dục "3 ôn, 3 kiểm" (ôn nhiệt tình cách mạng, ôn khổ, ôn truyền thống; kiểm tra lập trường, nhiệt tình, năng suất lao động/hiệu suất công tác) và đợt chỉnh huấn chính trị tháng 3/1960. Bước sang giai đoạn 1961 - 1965, Đại hội III đề ra đường lối tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng (quan hệ sản xuất, khoa học kỹ thuật, tư tưởng văn hóa), đặt ra yêu cầu mới là chuyển hướng công tác vận động thanh niên sẵn sàng đối phó với chiến tranh phá hoại của Mỹ.
Chương 2: Cuộc vận động thanh niên miền Bắc của Đảng giai đoạn 1965 - 1968
Chương 2 trình bày sự chuyển hướng chiến lược trong công tác thanh vận khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh bằng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc từ năm 1965.
Chủ trương của Đảng trong giai đoạn này xác định: chuyển hướng xây dựng kinh tế thời bình sang thời chiến; kết hợp chặt chẽ giữa lao động sản xuất với sẵn sàng chiến đấu; tổ chức lực lượng thanh niên làm nòng cốt trên tuyến đầu chống chiến tranh phá hoại và bảo đảm giao thông vận tải chi viện miền Nam.
Về quá trình Đảng chỉ đạo các phong trào hành động:
- Phong trào "Ba sẵn sàng": Xuất phát từ sáng kiến của thanh niên Thủ đô Hà Nội vào đêm 9/8/1964 sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, phong trào nhanh chóng được Trung ương Đảng và Ban Bí thư Trung ương Đoàn chuẩn y, phát triển thành cao trào cách mạng rộng khắp toàn miền Bắc. Hàng triệu đoàn viên thanh niên ký đơn tình nguyện nhập ngũ, sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng lao động sản xuất và sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu khi Tổ quốc cần.
- Lực lượng Thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước: Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, lực lượng TNXP được kiện toàn và tổ chức thành các đội hình quy củ, đóng vai trò xung kích trên mặt trận giao thông vận tải. Các đơn vị TNXP kiên cường bám trụ tại các trọng điểm bắn phá ác liệt như ngã ba Đồng Lộc, phà Bến Thủy, đường 20 Quyết Thắng, bảo đảm mạch máu giao thông thông suốt nối liền hậu phương với tiền tuyến.
- Các phong trào thi đua khác: Song hành với "Ba sẵn sàng" của thanh niên là phong trào "Ba đảm đang" của phụ nữ, phong trào luyện tay nghề, thi thợ giỏi trong các nhà máy, xí nghiệp, và phong trào thi đua thâm canh lúa trong nông thôn, duy trì sản xuất dưới làn bom đạn.
Chương 3: Đảng lãnh đạo đẩy mạnh cuộc vận động thanh niên miền Bắc giai đoạn 1969 - 1975
Chương 3 tái hiện công tác thanh vận qua hai chặng đường lịch sử liên tiếp:
Giai đoạn 1969 - 1972: Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần (9/1969), Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam được vinh dự mang tên Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh. Đảng phát động cuộc vận động sâu rộng học tập và làm theo Di chúc của Bác Hồ, giáo dục đạo đức cách mạng và bồi dưỡng lý tưởng "vừa hồng vừa chuyên". Khi Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai bằng không quân chiến lược (1972), thanh niên miền Bắc tiếp tục thể hiện tinh thần kiên cường trong phục vụ chiến đấu, bảo vệ hạ tầng công nghiệp, trường học sơ tán và trực tiếp tham gia chiến dịch 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không" tại Hà Nội, Hải Phòng. Lực lượng thanh niên nhập ngũ đông đảo chi viện cho các chiến dịch lớn tại Đường 9 - Nam Lào (1971) và Trị - Thiên (1972).
Giai đoạn 1973 - 1975: Sau Hiệp định Paris (1/1973), quân Mỹ rút về nước, miền Bắc có hòa bình trở lại. Đảng lãnh đạo chuyển hướng phong trào thanh niên sang thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh và dồn sức chi viện tối đa cho cách mạng miền Nam. Thanh niên xung kích tham gia các công trình tái thiết giao thông, thủy lợi, đẩy mạnh cách mạng khoa học kỹ thuật. Đến đầu năm 1975, khi thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam xuất hiện, công tác thanh vận tập trung cao độ vào việc động viên thanh niên tòng quân thần tốc, tham gia các đoàn binh đoàn chủ lực và phục vụ hậu cần - kỹ thuật cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Chương 4: Nhận xét chung về cuộc vận động thanh niên miền Bắc của Đảng (1965 - 1975)
Chương 4 tổng kết thực tiễn, phân tích đặc điểm, thành tựu, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm:
Về đối tượng và đặc điểm cuộc vận động:
- Lớp thanh niên thời kỳ này được sinh ra và nuôi dưỡng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, có giác ngộ lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội sâu sắc, giàu tinh thần hy sinh vì sự nghiệp chung.
- Cuộc vận động mang tính chất toàn dân, toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa nghĩa vụ xây dựng hậu phương và trách nhiệm chi viện tiền tuyến lớn.
Về thành tựu: Đảng đã khơi dậy mạnh mẽ lòng yêu nước, tổ chức hàng triệu lượt thanh niên tham gia lực lượng vũ trang và thanh niên xung phong; giữ vững nhịp độ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp thời chiến; xây dựng thế hệ con người mới có tinh thần tập thể, kỷ luật và niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng.
Về hạn chế: Công tác giáo dục tư tưởng ở một số địa phương còn thiếu chiều sâu, đôi lúc mang tính hành chính hóa hoặc chạy theo số lượng phong trào; việc chăm lo đời sống vật chất, văn hóa và bồi dưỡng nghề nghiệp cho thanh niên trong điều kiện chiến tranh kéo dài còn bộc lộ nhiều khó khăn, thiếu thốn.
Năm bài học kinh nghiệm chủ yếu được tác giả rút ra bao gồm:
- Để tập hợp, phát huy vai trò của thanh niên vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ miền Bắc, chi viện miền Nam, phải đánh giá đúng vai trò, vị trí của thanh niên và coi trọng công tác vận động thanh niên.
- Phải hiểu đúng tâm lý của tuổi trẻ miền Bắc để có những hình thức tổ chức sinh động, phong phú, phát huy tính năng động, sáng tạo của họ vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ miền Bắc, chi viện miền Nam.
- Thanh niên miền Bắc là người chủ của chế độ xã hội chủ nghĩa đã và đang được xây dựng, là lớp người có ước mơ, hoài bão tiến bộ, do đó đường lối, chủ trương vận động thanh niên của Đảng phải phù hợp với nguyện vọng, lợi ích và vai trò, vị trí của họ.
- Phải coi trọng công tác giáo dục tư tưởng cho thanh niên, khơi dậy truyền thống yêu nước, bất khuất kiên cường của dân tộc trong thế hệ trẻ miền Bắc.
- Thường xuyên coi trọng công tác lựa chọn, đào tạo đội ngũ cán bộ cho lực lượng thanh niên phù hợp với từng giai đoạn của công cuộc xây dựng và bảo vệ hậu phương miền Bắc, chi viện tiền tuyến miền Nam.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án hệ thống hóa một cách toàn diện hệ thống quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các chủ trương, đường lối của Đảng Lao động Việt Nam về thanh niên và công tác thanh vận trong điều kiện chiến tranh cách mạng bảo vệ Tổ quốc. Công trình làm sáng tỏ sự phát triển của lý luận thanh vận Mác-xít trong bối cảnh vừa xây dựng chế độ mới ở hậu phương vừa trực tiếp đối đầu với chiến tranh phá hoại.
Về mặt thực tiễn, luận án đã phục dựng bức tranh lịch sử chân thực, chi tiết và có hệ thống về quá trình Đảng lãnh đạo cuộc vận động thanh niên miền Bắc từ năm 1965 đến tháng 4 năm 1975. Tác giả chỉ ra vai trò lịch sử của các phong trào hành động tiêu biểu như phong trào "Ba sẵn sàng" và lực lượng Thanh niên xung phong trên các mặt trận chiến đấu, bảo đảm giao thông vận tải và lao động sản xuất. Đồng thời, 5 bài học kinh nghiệm lịch sử mà luận án đúc kết cung cấp cơ sở khoa học để vận dụng vào công tác tập hợp, giáo dục thanh niên trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Về kiến nghị và giải pháp, tác giả đề xuất việc vận dụng kinh nghiệm lịch sử vào thực tiễn hiện nay cần tập trung vào các định hướng: nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng về vị trí thanh niên; đổi mới phương thức hoạt động của Đoàn theo hướng sát hợp với nhu cầu và tâm lý tuổi trẻ; kết hợp hài hòa giữa việc phát huy vai trò cống hiến với việc chăm lo quyền lợi chính đáng của thanh niên; và chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác thanh niên có năng lực, phẩm chất.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn trong phạm vi đề tài và nguồn tư liệu lịch sử tiếp cận, luận án tập trung khảo sát sự lãnh đạo của Đảng đối với thanh niên tại địa bàn hậu phương miền Bắc (1965 - 1975) nên chưa có điều kiện phân tích, đối chiếu toàn diện với phong trào đấu tranh của lực lượng thanh niên, học sinh, sinh viên tại các đô thị và vùng giải phóng ở miền Nam trong cùng giai đoạn. Bên cạnh đó, các nội dung khảo sát chủ yếu được tiếp cận dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng, chưa đi sâu khai thác các biến đổi tâm lý xã hội học của từng nhóm thanh niên chuyên biệt bằng phương pháp điều tra định lượng xã hội học diện rộng.
Về hướng nghiên cứu tiếp, từ kết quả của công trình này, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát công tác thanh vận của Đảng trong thời kỳ cả nước hòa bình, thống nhất xây dựng chủ nghĩa xã hội (giai đoạn sau 1975), hoặc thực hiện các công trình chuyên khảo so sánh đối chiếu phong trào thanh niên hai miền Nam - Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật đối với:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Triết học Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc nghiên cứu và giảng dạy môn học Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Cán bộ làm công tác thanh vận, lãnh đạo các cấp của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam trong việc tra cứu tư liệu, học hỏi phương thức tổ chức phong trào quần chúng.
- Các cơ quan tham mưu chính sách của Đảng và Nhà nước về thanh niên, tham khảo các bài học lịch sử về giáo dục lý tưởng, tổ chức lực lượng và đào tạo cán bộ thế hệ trẻ.
Các phần nội dung đáng tham khảo bao gồm hệ thống văn kiện chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng về công tác thanh vận; phân tích quá trình chuyển hướng phong trào thanh niên sang thời chiến; dữ liệu lịch sử về phong trào "Ba sẵn sàng" và lực lượng Thanh niên xung phong; cùng hệ thống 5 bài học kinh nghiệm được đúc kết ở Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án hệ thống hóa quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thanh niên gồm những nội dung cốt lõi nào?
Tác giả hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên thành 5 quan điểm cơ bản: (1) Vận mệnh dân tộc tùy thuộc vào sự giác ngộ cách mạng của thanh niên; (2) Thanh niên là lực lượng to lớn, đội quân xung kích trên mọi mặt trận; (3) Thanh niên phải có tổ chức phù hợp, Đoàn là cánh tay và đội hậu bị của Đảng; (4) Thanh niên phải tự giác rèn luyện, không ngừng học tập, có chí tiến thủ và xung phong gương mẫu; (5) Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết theo tư tưởng "trồng người".
2. Văn kiện nào của Đảng đánh dấu việc đổi tên Đoàn Thanh niên Cứu quốc và xác định chức năng mới của Đoàn sau năm 1954?
Ngày 19/10/1955, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra nghị quyết đổi tên Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam thành Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam. Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 9/1955 và nghị quyết của Ban Bí thư xác định Đoàn là tổ chức quần chúng tiên tiến dưới sự lãnh đạo của Đảng, là cánh tay đắc lực và đội hậu bị của Đảng, có nhiệm vụ giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, giác ngộ chính trị và tổ chức thanh niên lao động kiến thiết Tổ quốc.
3. Trong giai đoạn khôi phục kinh tế 1954 - 1957, thanh niên miền Bắc đã tham gia thực hiện các chỉ tiêu cụ thể nào?
Thanh niên miền Bắc đã tham gia khắc phục tình trạng 14 vạn ha đất bỏ hoang, hơn 10 vạn trâu bò bị giết hại, phục vụ gần 10 triệu đồng bào thiếu nhà ở và việc làm. Trong đó, 36.000 thanh niên tình nguyện lên miền Tây xây dựng kinh tế; 6 vạn thanh niên tình nguyện tham gia lao động trên các công trường; đóng góp hàng triệu ngày công sửa chữa 6 công trình thủy nông lớn và hàng chục công trình vừa. Phong trào "Lao động kiến thiết Tổ quốc" phát triển mạnh trong công nghiệp, tiêu biểu như sáng kiến cải tiến xeo giấy của Đào Thị Hà nâng năng suất từ 950 tờ lên 1.300 tờ.
4. Quá trình Đảng chỉ đạo cuộc vận động thanh niên miền Bắc từ năm 1965 đến 1975 được phân kỳ như thế nào?
Luận án phân chia quá trình chỉ đạo theo các chặng đường lịch sử:
- Giai đoạn 1965 - 1968: Chuyển hướng công tác thanh vận sang thời chiến, phát động cao trào "Ba sẵn sàng", tổ chức lực lượng Thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước.
- Giai đoạn 1969 - 1972: Đẩy mạnh học tập và làm theo Di chúc Bác Hồ, chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ, khôi phục kinh tế và chi viện chiến trường.
- Giai đoạn 1973 - 1975: Khôi phục kinh tế hậu chiến sau Hiệp định Paris và huy động lực lượng chi viện thần tốc cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
5. Luận án đúc kết những bài học kinh nghiệm lịch sử nào từ cuộc vận động thanh niên miền Bắc (1965 - 1975)?
Luận án nêu lên 5 kinh nghiệm chủ yếu: (1) Đánh giá đúng vai trò, vị trí của thanh niên và coi trọng công tác thanh vận; (2) Hiểu đúng tâm lý tuổi trẻ để có hình thức tổ chức sinh động, sáng tạo; (3) Đường lối vận động phải phù hợp với lợi ích, nguyện vọng và vị trí làm chủ của thanh niên; (4) Coi trọng giáo dục tư tưởng, khơi dậy truyền thống yêu nước của dân tộc; (5) Thường xuyên coi trọng lựa chọn, đào tạo đội ngũ cán bộ thanh niên phù hợp với từng giai đoạn cách mạng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Cuộc vận động thanh niên miền Bắc của Đảng Lao động Việt Nam (1965 - 1975)" của tác giả Nguyễn Quang Liệu là công trình khoa học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam được thực hiện công phu và nghiêm túc. Tác giả đã phục dựng có hệ thống quá trình Đảng đề ra đường lối và chỉ đạo các phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ miền Bắc trong điều kiện vừa sản xuất, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại vừa dồn sức chi viện tiền tuyến lớn miền Nam. Hệ thống tư liệu phong phú cùng các phân tích khách quan về thành tựu, hạn chế và 5 bài học kinh nghiệm lịch sử đã góp phần khẳng định vị trí chiến lược của công tác vận động thanh niên trong sự nghiệp kháng chiến cứu nước. Công trình là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho công tác nghiên cứu lịch sử Đảng, lịch sử Đoàn và việc hoạch định công tác thanh niên trong giai đoạn hiện nay.