Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TUYỂN DỤNG VÀ SỬ DỤNG CÔNG CHỨC XÃ 1. Khái niệm tuyển dụng công chức cấp xã Trước khi tìm hiểu về khái niệm tuyển dụng công chức xã, thứ nhất chúng ta cần tìm hiểu về khái niệm công chức cấp xã. Theo Từ điển Tiếng Việt, công chức được hiểu là “Người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp” [62, tr. Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam, được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước" [43].
Vậy, công chức xã có thể được hiểu là công dân Việt Nam được tuyển dụng, giữ chức danh chuyên môn, làm việc trong các bộ phận trực thuộc UBND xã. Theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở xã, tại Khoản 2 Điều 3 quy định công chức xã có các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hoá - xã hội [13]. Như vậy, công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Đây là đội ngũ gần dân, sát dân nhất, trực tiếp triển khai các chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước đến với nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân 9 dân, công chức cấp xã vừa tham gia công tác lại vừa sản xuất, kinh doanh, gắn với lợi ích trong gia đình, dòng họ.
Chính vì vậy, đã giúp cho đội ngũ công chức cấp xã luôn hiểu được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân ở địa phương mà họ công tác, sinh sống, bên cạnh đó công chức xã còn thông thạo phong tục, tập quán, tâm lý của nhân dân và có những điều kiện thuận lợi trong việc vận động, thuyết phục nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước. - Công chức cấp xã được tuyển dụng và xếp loại theo ngạch, bậc. Mỗi ngạch được tiêu chuẩn hóa riêng biệt, gắn liền với đặc điểm và yêu cầu của từng vị trí công việc cụ thể theo trình độ đào tạo. - Đối với công chức Trưởng Công an và Chỉ huy trưởng Quân sự xã: ngoài những tiêu chuẩn quy định chung đối với đội ngũ công chức xã, còn phải có khả năng phối hợp với các đơn vị Công an nhân dân, Quân đội nhân dân tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dân sự; giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
- So với cán bộ chuyên trách xã thì đội ngũ công chức xã có tính ổn định tương đối và có tính chuyên môn hóa cao. Hơn nữa, công chức xã là những người trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các công việc hàng ngày của nhân dân và là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân, thực hiện hoạt động QLNN trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền được phân cấp, đảm bảo cho các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước được triển khai thực hiện và nhanh chóng đi vào thực tiễn của cuộc sống. Các công việc QLNN ở cơ sở thường đa dạng và luôn có sự đan xen các mối quan hệ lợi ích. Do đó, đòi hỏi công chức cấp xã là người làm dâu trăm họ, họ phải giải 10 quyết công việc của địa phương đảm bảo đúng quy định, pháp luật của nhà nước, nhưng cũng phải hợp lòng dân, được dân tin, dân yêu, dân chăm lo.
Đa phần công chức xã là người địa phương, chỉ có một số ít là người của địa phương khác hoặc được cấp trên tăng cường về, hoặc luân chuyển từ địa phương này sang địa phương khác. Vì vậy, họ là những người thường am hiểu rất rõ về đời sống kinh tế, tâm tư, nguyện vọng, sinh hoạt thường ngày, văn hoá ứng xử, phong tục, tập quán, lối sống của người dân trên địa bàn mình quản lý, làm việc. Điều này đã tạo được sự thuận lợi nhất định cho công chức xã thực hiện việc QLNN và giải quyết tốt các vấn đề phát sinh trên địa bàn mà học đang sinh sống và làm việc. Tuy nhiên, giữa họ với những người dân địa phương thường có mối quan hệ huyết thống, quan hệ dòng tộc, bà con thân thuộc hay quê hương, làng, bản; xóm, ấp, khóm.các mối quan hệ này đã ít nhiều gì cũng có sự chi phối nhất định đến hoạt động thực thi công vụ của đội ngũ công chức xã, nhất là trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân - cộng đồng - nhà nước.
Công chức cấp xã phải giải quyết tất cả các công việc trong đời sống xã hội ở địa phương, cơ sở mang tính thường xuyên để đảm bảo quyền và lợi ích, nguyện vọng chính đáng của người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, đội ngũ công chức xã phần lớn là những người trưởng thành từ thực tiễn hoạt động phong trào của địa phương hoặc được tuyển dụng nhưng không đạt chuẩn về trình độ chuyên môn nên hầu hết công chức xã chưa được đào tạo bài bản, đúng qui trình hay thực hiện việc chuẩn hóa đối với đội ngũ cán bộ này. Vì vậy, công chức xã sau khi được tuyển dụng thì phải cử đi đào tạo và đào tạo lại nên năng lực thực hiện nhiệm vụ trong QLNN của đội ngũ này còn nhiều hạn chế nhất định. Thực tế cho thấy, một bộ phận công chức xã thiếu những kiến thức chuyên môn nghiệp vụ hoặc không am hiểu, thành thạo mọi kỹ năng cần thiết cho hoạt động công vụ và một bộ phận công chức xã có thái độ ứng xử chưa phù hợp trong xử lý và giải quyết công việc, tiếp xúc với nhân dân.
11 Hiện nay, trình độ của công chức cấp xã đã từng bước được nâng lên đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập về trình độ văn hoá, lý luận chính trị, nhận thức, năng lực thực thi công vụ; một số công chức cấp xã làm việc chủ yếu dựa trên những kinh nghiệm thực tiễn được truyền từ các thế hệ đi trước hoặc một số công chức trẻ có trình độ chuyên môn nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn nên đã gặp không ít khó khăn khi xử lý, giải quyết các tình huống xảy ra trong công việc được phân công. Tất cả những điều nêu trên đã làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, tham mưu trong QLNN ở địa phương được phân công phụ trách. Trước đây, tiêu chuẩn công chức cấp xã theo quy định tại Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ Nội vụ phải có trình độ chuyên môn phù hợp từ Trung cấp trở lên [11].
Chính từ quy định này nên công chức cấp xã có sự đồng nhất và tương đối đạt chuẩn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Hiện nay, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 Hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn [5]. Quy định đã xác định rõ chức trách, tiêu chuẩn cụ thể và nhiệm vụ của từng chức danh công chức cấp xã. - Công chức cấp xã phải thông qua tuyển dụng và phụ trách những lĩnh vực công tác cụ thể nên nhìn chung có sự đảm bảo về tiêu chuẩn và tính ổn định trong công tác.
- Công chức xã trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo UBND xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác. Chất lượng, năng lực của công chức cấp xã sẽ góp phần quyết định đến hiệu lực, hiệu quả quản lý HCNN ở xã. - Đội ngũ công chức xã đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và là lực lượng chiếm số lượng hết sức đông đảo trong tổng số biên chế hiện nay. Chính vì vậy, việc xác định rõ đặc điểm, vị trí, vai trò của công chức xã là vấn đề cần thiết để có chủ trương, chính sách phù hợp.
12 - Công chức xã là những người gần dân, sát dân, biết dân, trực tiếp triển khai chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào dân, gắn bó với nhân dân. - Công chức xã là người trực tiếp giải quyết tất cả các yêu cầu, quyền lợi chính đáng từ nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. - Công chức xã có tính chuyên môn hoá thấp, kiêm nghiệm nhiều. - Công chức xã là những người có tình cảm gắn bó, lâu dài với địa phương là những người con của địa phương do đại đa số nhân dân tín nhiệm, bầu lên do đó một phần nào ảnh hưởng đến việc thi hành công vụ.
Tuyển dụng là quá trình tìm kiếm và lựa chọn đúng người, thỏa mãn được các yêu cầu của vị trí tuyển dụng và mục tiêu dài hạn của tổ chức, cơ quan. Theo giáo trình Tổ chức nhân sự HCNN (Học viện Hành chính Quốc gia), tuyển dụng là “đưa thêm người mới vào làm việc chính thức cho tổ chức, tức là từ khâu đầu tiên cho đến giai đoạn hình thành nguồn nhân lực cho tổ chức” [26, tr 105]. Như vậy, tuyển dụng công chức là quy trình sàng lọc và tuyển chọn những người có đủ năng lực đáp ứng một công việc trong một tổ chức, công ty, hoặc một chương trình tự nguyện hay nhóm cộng đồng. Theo Luật Cán bộ, công chức, hình thức tuyển dụng công chức được thực hiện chặt chẽ và bắt buộc phải thông qua thi tuyển (trừ trường hợp được xét tuyển với điều kiện người đó có đủ điều kiện về sức khỏe, văn bằng, độ tuổi, cam kết tình nguyện làm việc từ 5 năm trở lên ở miền núi, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn,… có thể được tuyển thông qua xét tuyển).