CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm “Công chức” Khái niệm công chức được quy định tại khoản 2 điều 4 Luật Cán bộ, CC 2008 và được sửa đổi, bổ sung trong Luật sửa đổi, bổ sung Luật một số điều của Luật Cán bộ, CC và Luật Viên chức ngày 25/11/2019, có hiệu lực thi hành từ 01/7/2020 quy định như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Khái niệm “Công chức cấp xã” Khái niệm CC cấp xã được quy định tại khoản 3 điều 4 Luật Cán bộ, CC năm 2008, quy định “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.11] CC hành chính cấp xã theo khoản 3 điều 61 Luật Cán bộ, CC năm 2008, gồm: - Trưởng công an; - Chỉ huy quân sự; 7 Luan van - Văn phòng – Thống kê; - Địa chính – Xây dựng – đô thị và môi trường; - Tài chính – Kế toán; - Tư pháp – Hộ tịch; - Văn hóa – Xã hội.
Tuy nhiên, dựa theo Luật Công an nhân dân năm 2018 đối với xã, thị trấn chưa tổ chức công an chính quy và khoản 13 điều 1 Luật sửa đổi năm 2019, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, CC và Luật viên chức, theo Phòng tổ chức cán bộ - công an, thực hiện chủ trương chính quy hóa, trưởng công an cấp xã không còn là CC mà thuộc lực lượng công an nhân dân. Vì vậy, tính từ năm 2020 vị trí Trưởng công an cấp xã không được xét trong chức danh CC cấp xã. Khái niệm “Đánh giá” Có nhiều cách hiểu và khái niệm đánh giá khác nhau. Theo quan niệm của triết học, đánh giá là việc xác định những giá trị của sự vật, hiện tượng xã hội, hoạt động hành vi nào đó của con người tương xứng với những mục tiêu, nguyên tắc, kết quả mong đợi hay một chuẩn mực nhất định, từ đó bộc lộ một thái độ.
Đánh giá vừa có tính động cơ, vừa là phương tiện và mục đích hành động. Trần Xuân Cầu, trong giáo trình Phân tích lao động xã hội cho rằng “đánh giá là quá trình so sánh, đối chiếu thực tế với những tiêu chuẩn đã định sẵn để rút ra mức độ phù hợp của các bộ phận, các mối liên kết bên trong sự vật với những chuẩn mực, quy định của nó”. Tuy nhiên, trong đề tài khóa luận này, tác giả tìm hiểu khái niệm theo góc độ như sau: “Đánh giá được hiểu là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về giá trị hoặc kết quả về một cái gì đó hay một người nào đó, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được đối chiếu với tiêu chuẩn, chuẩn mực đã có sẵn. Khái niệm “Đánh giá thực hiện công việc” Theo tiếp cận của PGS.
Trần Kim Dung, tác giả cho rằng “Đánh giá kết quả thực hiện công việc là xác định mức độ hoàn thành công việc của tập thể hoặc cá nhân so với các tiêu chuẩn đã đề ra hoặc so sánh với kết quả công việc của các tập thể, cá nhân khác cùng thực hiện công việc” [7, tr. Theo tiếp cận của giáo trình ĐGTHCV của PGS. Mai Thanh Lan, tác giả cho rằng “ĐGTHCV không chỉ bao gồm đánh giá cá nhân người lao động mà quá trình này gắn liền với thành tích của bộ phận và cả tổ chức/doanh nghiệp, do vậy ĐGTHCV được hiểu là quá trình thu nhận và xử lí thông tin để đo lường quá trình và kết quả thực hiện công việc của các bộ phận và cá nhân người lao động trong tổ chức/doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định”.18] ĐGTHCV thường được hiểu là “sự đánh giá có hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc của người lao động trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thảo luận về sự đánh giá đó với người lao động. Tính hệ thống ở đây được biểu hiện qua 3 góc độ: - Đánh giá sử dụng một hệ thống gồm nhiều chỉ tiêu liên quan đến nhau; - Đánh giá theo một chu kỳ nhất định; - Đánh giá theo một quy trình thống nhất; Tính chính thức được thể hiện qua 3 góc độ: - Đánh giá công khai trong toàn tổ chức; - Đánh giá bằng các văn bản chính thức; - Kết quả đánh giá được phản hồi đến các đối tượng liên quan (người lao động, người quản lý…).142] Như vậy, mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng về bản chất, “ĐGTHCV chính là việc sử dụng các tiêu chuẩn đánh giá để đánh giá mức độ hoàn thành công việc của người lao động trong tổ chức.
ĐGTHCV là cơ 9 Luan van sở công tác tổ chức, quản lý nguồn nhân lực; giúp tổ chức dự báo mức độ hoàn thành mục tiêu của người lao động trong những kì sắp tới; và là căn cử để tổ chức thực hiện khen thưởng hay kỉ luật lao động”. Vai trò và nguyên tắc của đánh giá thực hiện công việc 1. Vai trò của đánh giá thực hiện công việc 1. Đối với tổ chức Đánh giá giúp cơ quan, tổ chức đánh giá thực tế, khách quan về người lao động, đảm bảo đúng người đúng việc.
ĐGTHCV giúp cho hoạt động quản lý của cấp lãnh đạo, cấp quản lý được dễ dàng hơn, giúp họ nắm bắt kịp thời quá trình làm việc thực tế của người lao động. ĐGTHCV của người lao động sẽ khuyến khích nhà quản lý đưa ra ý kiến phản hồi đầy đủ cần thiết hay thích đáng đối với từng bộ phận, người lao động, giúp cho các tổ chức có thể kiểm tra, đánh giá được chất lượng của các hoạt động quản lý nguồn nhân lực của mình từ đó có sự điều chỉnh cho phù hợp với khả năng làm việc của người lao động theo hướng có lợi nhất cho bản thân cũng như cơ quan, tổ chức đó. Việc đánh giá công việc giúp nhà quản trị nhìn nhận được cả quá trình làm việc của người lao động, đánh giá bao quát, toàn diện, không chỉ xem xét ở kết quả công việc mà còn ở quá trình làm việc. ĐGTHCV là cơ sở cho các vấn đề về tiền lương, thưởng, bố trí nhân lực.
Bên cạnh đó, kết quả của ĐGTHCV còn là cơ sở trong việc đề bạt, thăng chức, tăng lương, thưởng hay sa thải, điều động đối với người lao động. Việc phản hồi thông tin sau đánh giá của nhân viên sẽ giúp nhà quản lý có cái nhìn bao quát, toàn diện, từ đó đưa ra các quyết định nhân sự đúng đắn, phù hợp với mong muốn của người lao động. Hoạt động đánh giá giúp cho mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới trở nên khăng khít, tốt đẹp hơn, tạo ra môi trường làm việc thiện chí và tích cực hơn. Đối với cá nhân người lao động Thông qua công tác ĐGTHCV, người lao động sẽ nhìn nhận được điểm 10 Luan van mạnh, điểm yếu của bản thân, từ đó có sự điều chỉnh cho phù hợp với công việc.
Kết quả đánh giá, những phản hồi đa chiều từ đồng nghiệp, quản lý, khách hàng, đối tác. sẽ giúp người lao động hiểu hơn họ mạnh ở điểm gì và cần cải thiện thêm ở điểm gì. Giúp nhà quản lý và người lao động có thể tìm được những phương án, giải pháp để khắc phục mặt yếu kém và thực hiện công việc tốt hơn. Từ đó, gia tăng thêm tình cảm đồng nghiệp, giúp họ hiểu nhau hơn.
Giúp nhà quản lý biết được mong muốn, nhu cầu, nguyện vọng của người lao động để đưa ra những quyết định phù hợp, đáp ứng được tâm tư, nguyện vọng đó. Cũng từ đó, người lao động có cơ hội nhìn nhận và thay đổi cách thức, hành vi, thái độ làm việc của mình để nâng cao năng suất lao động, hoàn thành mục tiêu của tổ chức Bên cạnh đó, ĐGTHCV còn giúp người lao động có thái độ tốt hơn. ĐGTHCV là công tác rất nhạy cảm, việc đánh giá sai lệch, không đúng với năng lực, công sức người lao động sẽ ảnh hưởng đến tâm lý người lao động, khiến họ có thái độ làm việc không đúng mực. Người lao động sẽ có thái độ làm việc đối phó, cầm chừng, tạo bầu không khí làm việc chán nản, tiêu cực.
Kết quả ĐGTHCV là căn cứ giúp người lao động hiểu rõ họ đang thực hiện công việc như nào, đạt được chỉ tiêu đã đề ra hay chưa, để họ có thể điều chỉnh thái độ đúng đắn, tốt hơn với công việc. Việc đánh giá đúng năng lực, công việc của người lao động giúp tạo động lực, cải thiện bầu không khí tâm lý xã hội trong tập thể người lao động, điều chỉnh thái độ làm việc giúp người lao động có suy nghĩ, năng lượng làm việc tích cực hơn, gia tăng hiệu quả, hiệu suất và khả năng phối hợp trong công việc. Đối với xã hội, giáo dục Giáo dục là một vấn đề không thể thiếu trong sự phát triển của bất kì cơ quan, tổ chức nào. Trên cơ sở đánh giá người lao động, nhà quản lý sẽ có cái nhìn khách quan hơn về người lao động của mình, điều này giúp cho họ hiểu 11 Luan van và ý thức được về bản thân mình, giúp họ tự hoạch định được sự phát triển tương lai của mình.
Đó là việc cần thiết cho sự phát triển của mỗi cá nhân người lao động. Nguyên tắc của đánh giá thực hiện công việc đối với công chức cấp xã Có 4 nguyên tắc cơ bản của ĐGTHCV: 1. Đánh giá phải dựa trên chức trách, nhiệm vụ được giao. Việc đánh giá người lao động dựa trên 4 cấp bậc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành nhiệm vụ, không hoàn thành nhiệm vụ.
Mỗi người lao động sẽ có chức trách, nhiệm vụ được giao là khác nhau. Người đánh giá sẽ nhìn vào vị trí, chức trách được giao của người lao động để đánh giá xem người đó đã hoàn thành nhiệm vụ ở vị trí của mình hay chưa.