chương 1, luận văn trình bày những cơ sở lý luận về từ ngữ Hán Việt như: phân biệt từ gốc Hán và từ Hán Việt; phân biệt cách đọc Hán Việt, yếu tố gốc Hán, tiếng Hán Việt, từ Hán Việt; trình bày khái niệm, cách nhận diện và phân loại từ ngữ Hán Việt; nêu ra một vài khác biệt giữa từ ngữ Hán Việt với từ ngữ thuần Việt đẳng nghĩa; ngoài ra, trong chương này luận văn cũng trình bày khái quát về ca dao Nam Bộ và ngôn ngữ ca dao Nam Bộ. Trong chương 2, luận văn miêu tả, phân tích đặc điểm của từ ngữ Hán Việt trong ca dao Nam Bộ ở các khía cạnh: đặc điểm về ngữ âm, đặc điểm về cấu tạo – ngữ pháp và các phạm trù nghĩa biểu hiện chủ yếu của từ ngữ Hán Việt. Trong chương 3, luận văn khảo sát, phân tích đặc điểm sử dụng của từ ngữ Hán Việt trong ca dao Nam Bộ: về tần số sử dụng, vị trí và chức năng sử dụng của từ ngữ Hán Việt và giá trị sử dụng của từ ngữ Hán Việt. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN Để thực hiện đề tài này, trước hết cần xác định rõ một số khái niệm liên quan sẽ được sử dụng trong luận văn.
Trên cơ sở trình bày kết quả nghiên cứu của những công trình đi trước, người viết đi đến lựa chọn những quan niệm làm cơ sở cho việc thực hiện đề tài này. Từ gốc Hán và từ Hán Việt Trong một công trình nghiên cứu về Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt, Lê Đình Khẩn viết: “Có thể nói, trong lãnh vực nghiên cứu lớp từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt, Maspéro và Vương Lực là những người xứng đáng được ghi công đầu. Kết quả nghiên cứu của hai ông đã tạo cơ sở cho các nhà Việt ngữ học Việt Nam sau này” [36; tr. Theo Lê Đình Khẩn: “…Có lẽ ông (Maspéro) là người đầu tiên tiến hành thống kê và công bố số lượng từ Hán trong tiếng Việt.
Với tỉ lệ 60% từ Hán trong tiếng Việt, ông đã tưởng tiếng Việt là một nhánh của cái gốc Hán Tạng [36; tr. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Vương Lực, nhà Hán ngữ học người Trung Quốc góp phần đặt nền móng cho việc nghiên cứu lớp từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt. Kết hợp các cứ liệu lịch sử với các ngữ liệu về tiếng Hán, tiếng Việt, Vương Lực đã chia từ Hán (từ đơn) trong tiếng Việt ra thành ba loại gọi là Hán Việt cổ, Hán Việt và Hán Việt Việt hóa. Ở Việt Nam, Nguyễn Tài Cẩn với công trình Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán – Việt (1979) đã chia cách đọc Hán – Việt thành: cách đọc Hán – Việt cổ (tiền Hán – Việt), cách đọc Hán – Việt đời Đường (cách này còn lưu lại cho đến nay và gọi là cách đọc Hán Việt), cách đọc Hán – Việt Việt hóa và cách đọc Hán – Việt thông qua một phương ngữ Hán.
Hiện nay, các nhà Việt ngữ học có nhiều cách lý giải khác nhau về từ gốc Hán và từ Hán Việt. Trước hết, với tư cách là thuật ngữ ngôn ngữ học, từ Hán Việt được giải thích là: “Từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán, đã nhập hệ vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt; còn gọi là từ Việt gốc Hán. Ví dụ: chính phủ, quốc gia, 9 giang sơn, nhân dân, tổ quốc, xã tắc” [76; tr. Như vậy, theo lời giải thích của các tác giả Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học thì từ Hán Việt và từ gốc Hán là một.
Nguyễn Ngọc San cũng nhận định: “Lúc đầu nhiều người còn cho rằng từ Việt gốc Hán chỉ bao gồm từ Hán Việt” [53; tr. Nhưng, theo một số nhà nghiên cứu khác thì từ Hán Việt và từ gốc Hán có sự phân biệt nhau. Nguyễn Ngọc San [53] không đồng nhất từ gốc Hán và từ Hán Việt, các từ gốc Hán được tác giả chia thành ba loại: từ tiền Hán Việt, từ Hán Việt và từ Hán Việt hóa. Như vậy, theo tác giả thì từ Hán Việt chỉ là một bộ phận của từ gốc Hán.
Nguyễn Văn Tu căn cứ vào ngữ âm và thời gian du nhập đã phân biệt 3 loại từ gốc Hán: từ Hán cổ, từ gốc Hán mượn của đời Đường và từ gốc Hán đã Việt hóa. Trong đó, từ gốc Hán mượn của đời Đường chính là từ Hán Việt: “Những từ gốc Hán mà người ta thường gọi là từ Hán Việt gồm một hệ thống những từ Hán cần thiết cho việc giao tế lúc đó nhất là trong ngôn ngữ viết” [71; tr. Cũng căn cứ vào thời gian du nhập, Đỗ Hữu Châu chia quá trình thâm nhập của tiếng Hán thành hai thời kỳ: thời kỳ trước và thời kỳ sau cuộc đô hộ của triều đại nhà Đường. Tác giả cho rằng: “Các từ Hán thâm nhập vào tiếng Việt vào thời kỳ trước được phát âm theo hệ thống ngữ âm Hán cổ, khác với hệ thống ngữ âm Hán Việt thâm nhập vào thời kỳ sau… Những từ Hán thâm nhập vào tiếng Việt từ cuộc đô hộ của nhà Đường thì được phát âm căn bản như âm Hán Việt hiện nay [8; tr.
Nguyễn Thiện Giáp phân từ ngữ gốc Hán thành 2 loại: các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán – Việt (gọi tắt là từ Hán Việt) và các từ ngữ gốc Hán không đọc theo âm Hán – Việt. Tác giả lập luận: “Vì người ta có thể đọc tất cả các chữ Hán (cổ đại cũng như hiện đại) theo cách đọc Hán – Việt cho nên cần phân biệt từ gốc Hán trong tiếng Việt và các từ Hán đọc theo âm Hán Việt” [19; tr. Từ Hán Việt hay từ gốc Hán đều là cách đọc chữ Hán của người Việt, tuy nhiên cách đọc đó được hình thành ở các giai đoạn khác nhau trong lịch sử. Các tác giả Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt “chia quá trình tiếp xúc Hán – Việt thành hai giai đoạn lớn: một là giai đoạn từ đầu Công nguyên đến đầu đời 10 Đường (đầu thế kỷ VIII); hai là giai đoạn từ đời Đường (thế kỷ VIII – thế kỷ X) trở về sau.
Hai lần tiếp xúc lớn này cung cấp cho từ vựng tiếng Việt hai nguồn từ gốc Hán mà như trước nay vẫn quen gọi là từ Hán cổ và từ Hán – Việt” [11; tr. Ngoài ra, có một nhóm được du nhập vào tiếng Việt thông qua con đường khẩu ngữ của những người nói phương ngữ tiếng Hán như: xì dầu, mì chính, vằn thắn, xá xíu, sủi cảo, lẩu lục tào xá, tào phớ, chí ma phù, bát bảo lường xà… cũng được các tác giả gọi là những từ gốc Hán. Trong công trình Từ ngoại lai trong tiếng Việt, Nguyễn Văn Khang chia từ ngoại lai thành: từ mượn Hán, từ mượn tiếng Pháp và từ tiếng Anh sử dụng trong tiếng Việt. Từ mượn Hán được phân chia theo các góc nhìn khác nhau: (i) từ góc độ cội nguồn, (ii) theo dòng thời gian của sự vay mượn, (iii) từ góc độ con đường vay mượn, (iv) từ góc độ đồng hóa, (v) từ góc độ sử dụng và (vi) từ góc độ chức năng.
Cách phân chia phổ biến là theo dòng thời gian của sự vay mượn, Nguyễn Văn Khang viết: “Theo dòng thời gian của sự vay mượn có thể tách từ mượn Hán thành ba loại: từ tiền Hán Việt, từ Hán Việt và từ hậu Hán Việt [32; tr. Tác giả Lê Đình Khẩn [36] trong công trình Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt, từ góc độ lịch sử cũng đã chia từ gốc Hán trong tiếng Việt thành: từ tiền Hán Việt, từ Hán Việt và từ hậu Hán Việt. Diệp Quang Ban thì lại cho rằng: “Không phải mọi từ mượn từ tiếng Hán đều là từ Hán Việt. Từ Hán Việt nói ở đây là từ mượn gốc Hán và đọc theo âm Hán Việt.
Như vậy là, những từ mượn từ tiếng Hán trước đời Đường như: buồng, buồm, ngà, đìa, chém.v… và những từ mượn theo con đường khẩu ngữ (nói theo âm Trung Quốc bây giờ) như: tài xế, mì chính, vằn thắn… không được coi là từ Hán Việt” [Diệp Quang Ban (chủ biên) (1999), TiếngViệt 6 nâng cao, Nxb GD, HN, tr. 36 (dẫn theo Đặng Đức Siêu [56; tr. Trần Trí Dõi [15] trong Giáo trình Lịch sử tiếng Việt cũng phân chia từ gốc Hán trong tiếng Viêt thành: từ cổ Hán – Việt hay Hán – Việt cổ, từ Hán – Việt, từ Hán – Việt Việt hóa. 11 Như vậy, hầu hết các tác giả đều phân biệt từ gốc Hán và từ Hán Việt, từ Hán Việt chỉ là một bộ phận của từ gốc Hán là quan điểm được đông đảo các nhà nghiên cứu đồng tình.
Các từ gốc Hán nói chung và từ Hán Việt nói riêng có vị trí rất quan trọng trong từ vựng tiếng Việt. Về mặt số lượng, chúng chiếm hơn phân nửa tổng số từ trong tiếng Việt (khoảng 60%); về mặt chất lượng, chúng tham gia vào mọi lĩnh vực giao tiếp của đời sống người Việt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, khoa học, pháp luật, y học, ngoại giao…Vì thế lớp từ này luôn được sự quan tâm thích đáng đối với các nhà nghiên cứu, tìm hiểu về tiếng Việt. Ngoài hai cách hiểu nêu trên về từ gốc Hán và từ Hán Việt, trong Việt ngữ học hiện nay còn có một số khái niệm như cách đọc Hán – Việt, từ Hán Việt, tiếng Hán Việt, yếu tố gốc Hán… cũng chưa có sự thống nhất, gây không ít khó khăn cho người học. Phân biệt cách đọc Hán Việt, yếu tố gốc Hán, tiếng Hán Việt, từ Hán Việt Cách đọc Hán Việt thường được giải thích là cách đọc chữ Hán ở Việt Nam, theo lối đọc riêng của người Việt.
Theo Nguyễn Tài Cẩn: “Cách đọc Hán – Việt là một cách đọc vốn bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường, mà cụ thể là Đường âm dạy ở Giao Châu vào giai đoạn bao gồm khoảng hai thế kỷ VIII, IX; nhưng cách đọc theo Đường Âm đó, sau khi Việt Nam giành được độc lập, đã dần dần biến dạng đi, dưới tác động của quy luật ngữ âm và ngữ âm lịch sử tiếng Việt, tách xa hẳn cách đọc của người Hán để trở thành một cách đọc riêng biệt của người Việt và những người thuộc khu vực văn hóa Việt. Đây là một cách đọc tạo thành hệ thống, nghĩa là trên lý thuyết có thể dùng để đọc toàn bộ kho tàng các ký hiệu văn tự Hán, với khả năng gần như cách đọc của bản thân người Hán; nhưng đây lại là một cách đọc độc lập, có đặc trưng riêng, chức năng riêng và có cả một lịch sử diễn biến của riêng mình” [5; tr.