Chương 1 TRANG THẾ HY NGÒI BÚT CẢM THÔNG, BÊNH VỰC NHỮNG CON NGƯỜI BẤT HẠNH 1. Vài nét về nhà văn và quá trình sáng tác 1. Vài nét về nhà văn: Trang Thế Hy tên thật là Võ Trọng Cảnh, sinh ngày 29.1924, quê ở xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Trong những năm 1942-1943, cuộc sống khó khăn đã khiến anh thanh niên Võ Trọng Cảnh rời quê lên Sài Gòn kiếm sống bằng nhiều nghề khác nhau như làm kiểm vé xe điện, làm thủ kho … Mảnh đất Sài thành không ngờ lại là một nơi nhiều duyên nợ với nghiệp văn chương của người thanh niên đang dở dang học vấn này.
Cũng như bao thanh niên cùng thế hệ, Võ Trọng Cảnh tham gia cách mạng từ ngay sau Cách mạng tháng Tám với một nhiệt huyết yêu nước sục sôi. Thời gian ấy, ông vẫn còn ở quê nội là Hữu Định. Sau đó ông bắt đầu công tác tại Ty thông tin tuyên truyền tỉnh Bến Tre. Năm 1951, Võ Trọng Cảnh được rút về Sở thông tin Nam Bộ; sau đó chuyển về Ty thông tin Cần Thơ cho đến ngày ký kết hiệp định Genève tháng 7-1954.
Vào khoảng 1949 – 1950, ở Bến Tre có Phân hội Văn nghệ kháng chiến tỉnh. Võ Trọng Cảnh lúc này cũng có làm dăm bài thơ nhưng hoạt động văn nghệ thực sự thì chưa có gì.1954 ông có làm một bài thơ dài mang tên Thanh gươm tháng Tám in trên báo Nhân dân của tỉnh. Bài thơ nói lên tâm sự của người đi kháng chiến nhớ về một người bạn cũ đã rời bỏ đội ngũ, sống bơ vơ, không mục đích. Chủ đích của ông khi viết bài thơ đơn giản chỉ là phục vụ cho công tác binh vận.
Dù vậy, đây là bài thơ được Trang Thế Hy ghi nhớ bởi nó là dấu mốc đầu tiên trong ý thức sử dụng ngòi bút làm vũ khí chiến đấu. Sau 1954, trong khi nhiều người chọn nguyện vọng tập kết ra Bắc thì Võ Trọng Cảnh xin được ở lại bám quê, mai phục đấu tranh chờ ngày thống nhất đất nước. Cho đến 1956, ông vẫn làm công tác tuyên huấn tại Thị uỷ Bến Tre, phụ trách việc ra một tờ thông tin (cũng chỉ là viết tay trên bản kẽm và in những tờ tin nhỏ). Từ cuối 1956, tình hình bắt đầu cam go, cán bộ cách mạng bị địch săn đuổi rất gắt gao.
Lúc bấy giờ, tỉnh có chủ trương đưa những cán bộ bị truy đuổi ráo riết lánh đi, rồi hoạt động công khai, tạo thế hợp pháp mới. Ông được lệnh đi “điều lắng” và được chọn Sài Gòn là địa bàn hoạt động mới. Điều này cũng có ít nhiều thuận lợi cho ông bởi hơn mười năm trước đó ông đã từng lăn lộn kiếm sống ở mảnh đất phồn hoa phức tạp này. Thời gian đầu, ông phải tự xoay sở kiếm sống.
Đầu tiên là dạy kèm trẻ tại tư gia. Tiếp đó là sửa bản in ở các nhà xuất bản nhỏ. Nhờ những năm tháng dạy học mà con người hiếu học, đầy ý chí phấn đấu ấy tiếp tục tự học (vì ông chưa học hết bậc Trung học)và tự học thêm tiếng Pháp. Ông đã tìm đọc, tìm mua nhiều sách cũ bằng tiếng Pháp để nâng cao vốn ngoại ngữ của mình.
Cũng chính từ đây, ông có cơ hội tiếp xúc với các nền văn học thế giới, “gặp gỡ” được những nhà văn lớn của thế giới như Tchekov, Gorki, Dostoievski, Hemingway, Lỗ Tấn… Công việc sửa chữa bản in cũng là một nhịp cầu đầy duyên nợ đem ông đến với văn chương. Ông được đọc nhiều tác phẩm của các tác giả đương thời và nhận ra được nhiều điều bổ ích. Chính từ đây, sự tự tin của một con người ham học hỏi, sự quyết tâm của một cán bộ tuyên huấn đã khiến ông nảy sinh ý tưởng: mượn văn chương để làm công tác tuyên truyền. Dù trước đó không có thiên hướng lắm về văn chương nhưng ông tự tin vào khả năng, vào mục đích của mình và tự nhủ: mình sẽ viết được! Và ông bắt đầu viết với sự động viên, khuyến khích của các “đàn anh” trong nghề như Viễn Phương, Sơn Nam, Lý Văn Sâm… Vài truyện ngắn đầu tiên của ông đã ra đời và được đăng trên báo Nhân loại với bút danh Văn Phụng Mỹ (tức Văn chương phụng sự cái đẹp).
Những truyện ngắn sau đó như Nguồn cảm mới, Nắng đẹp miền quê ngoại, Vầng trăng bên kia sông…đã nhanh chóng làm ông nổi tiếng. Năm 1959, ông chính thức lấy bút danh Trang Thế Hy vì ông thấy bút danh Văn Phụng Mỹ đã “quê” rồi, không còn phù hợp nữa. Ngoài truyện ngắn, Trang Thế Hy còn viết tiểu thuyết. Tiểu thuyết của ông xuất hiện trên nhật báo Thủ Đô và tuần báo Chị cùng em dưới hình thức feuilletons.
Cũng như số phận không may của những trí thức yêu nước, những cán bộ cách mạng chân chính khác cùng thời, từ năm 1960 đến 1962, ông bị chính quyền ngụy bắt giam. Trong tù, con người ham học ấy lại tranh thủ học thêm ít chữ Hán của các giáo sư bị giam chung chứ nhất quyết không chịu để thời gian trôi qua vô ích. Năm 1963, ông vào khu giải phóng và ở trong biên chế của Ban Tuyên huấn đặc khu Sài Gòn – Gia Định, công tác trong Tiểu ban văn nghệ thuộc Trung ương cục miền Nam. Trong thời gian ấy, ông đã gặp gỡ và hoạt động cùng với các văn nghệ sĩ như Giang Nam, Lý Văn Sâm, Trần Hiếu Minh.
Và ông tiếp tục viết văn. Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông trở về Sài Gòn và sống tại căn hộ tập thể 190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa (thuộc quận 3 Thành phố Hồ Chí Mnh ngày nay). Có nhiều thời gian cũng như vốn sống thực tế, ông viết đều và đã xuất bản các tập truyện: Mưa ấm, Người yêu và mùa thu, Vết thương thứ mười ba. Tập truyện ngắn Tiếng khóc và tiếng hát của ông do Hội văn nghệ Bến Tre xuất bản đã được giải thưởng Hội nhà văn năm 1998.
Viết đều, viết được, với một vốn kiến thức uyên thâm và khát khao học hỏi, thế nhưng sau đó ông đã gần như không viết nữa. Có lẽ ông đã bị trầm cảm. Cũng có thể ông muốn dành nhiều thời gian để chiêm nghiệm lẽ đời. Năm 1992 đến nay, ông trở về sống lặng lẽ tại quê nhà, theo cách nói của ông là để chuẩn bị “đi chỗ khác chơi”.
Truyện ngắn cuối cùng mà Trang Thế Hy viết chính là truyện Hai người nhìn mưa dầm, một truyện ông rất yêu mến bởi ông viết về một người bạn mà ông mến yêu, về những kỷ niệm hằn sâu trong đời ông. Thời gian sau này, Trang Thế Hy thỉnh thoảng làm thơ. Ông viết về những điều ông chiêm nghiệm – những điều giản dị mà rất đỗi nhân văn. Ngoài ra ông cũng là một dịch giả khá thành công với những bài thơ hay của thi hào Rabindranath Tagore.
Và cho dù là truyện ngắn, tiểu thuyết hay những bài thơ tự do, những bài thơ dịch, văn chương Trang Thế Hy vẫn toát lên nét thâm trầm, sâu lắng của một ngòi bút luôn trăn trở tìm cách để bảo vệ, gìn giữ cái đẹp của cõi người. Quá trình sáng tác: 1. Các giai đoạn sáng tác: Như chúng ta đã biết trong phần tiểu sử, Trang Thế Hy sáng tác từ cuối 1956 cho đến mãi những năm 90 của thế kỷ XX (cụ thể: truyện ngắn cuối cùng Hai người nhìn mưa dầm của ông viết năm 1993). Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy quá trình ấy có những khác biệt đáng chú ý.
Điều này được thể hiện ngay trong những truyện ngắn của ông. Đó là sự thay đổi về nội dung tự sự và đặc trưng nghệ thuật. Chúng ta tạm thời chia làm hai giai đoạn trong quá trình ấy. Giai đoạn thứ nhất là những năm đầu Sài Gòn đặt dưới sự cai quản của chính quyền Ngô Đình Diệm.
Giai đoạn này, như phần đông các nhà văn thời bấy giờ, Trang Thế Hy thường sử dụng lối viết mang tính ẩn dụ, với những biểu tượng hai mặt, những hình ảnh mang tính biểu trưng cao. Lòng yêu nước thiết tha, sự căm thù giặc mãnh liệt, niềm tin vào con người, tin vào sức mạnh của truyền thống văn hóa, quyết tâm bảo vệ, gìn giữ đến cùng hồn dân tộc … được nhà văn thể hiện một cách khá uyển chuyển trong tình thế chính trị hết sức khó khăn lúc đó. Ông lấy khá nhiều bút danh khác nhau để dễ bề hoạt động dưới sự kìm kẹp của kẻ thù. Các bút danh ông đã sử dụng là: Phạm Võ, Văn Phụng Mỹ, Triều Phong, Vũ Ái, Văn Minh Phẩm, nhưng Trang Thế Hy chính là bút danh được nhà văn sử dụng nhiều nhất.
Giai đoạn thứ hai là từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng(1975) cho đến những năm 90 của thế kỷ trước. Tình thế đã thay đổi. Từ trạng thái bị nô lệ, mất tự do, đất nước đã chuyển sang một thời kỳ mới: thời kỳ của hòa bình, độc lập, tự do đích thực. Nhà văn không còn phải đối mặt với những ngăn trở, cấm đoán như giai đoạn trước nữa, nghĩa là ngòi bút được tự do tung hoành.
Nhưng cũng ngay sau chiến tranh, một mảng hiện thực mới đã phơi lộ, để lại trong lòng nhà văn vốn đa cảm những trăn trở khôn nguôi. Và những trăn trở về thời cuộc ấy đã được ông kín đáo thể hiện trong những sáng tác ở giai đoạn sau này. Thực ra khó mà phân chia rạch ròi giai đoạn sáng tác của nhà văn. Bởi phần nhiều những đặc trưng truyện ngắn của ông đều có sự nhất quán từ đầu đến cuối trong các sáng tác như cách viết ẩn dụ, dựng truyện phi cốt truyện, giọng trữ tình… (chúng ta sẽ nói rõ ở phần sau), đặc biệt, cho dù viết ở giai đoạn nào, vấn đề cần nhấn mạnh là gì đi chăng nữa thì Trang Thế Hy vẫn luôn dành những dòng tâm huyết cho số đông những con người bất hạnh luôn thầm lặng của ông.
Có khác chăng là càng ngày, với nhiều trải nghiệm, tay bút này càng vững hơn, vấn đề đưa ra nhiều hơn, sâu hơn, nhất là những vấn đề mới của thời cuộc. Những tập truyện ký đã xuất bản: Kể từ khi bắt đầu sáng tác đến nay, nhà văn của chúng ta đã có bảy tập truyện ký được xuất bản, bắt đầu với tập Nắng đẹp miền quê ngoại (1964) và gần đây nhất là Truyện ngắn Trang Thế Hy (2006). Các tập còn lại lần lượt là:Mưa ấm (1981), Người yêu và mùa thu (1981), Vết thương thứ mười ba (1989), Tiếng khóc và tiếng hát (1993), Nợ nước mắt và những truyện ngắn khác (2001). Trong các tập truyện ký kể trên, tập sau có in lại một số tác phẩm tiêu biểu của tập trước.