Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ 1. Một số vấn đề lý luận về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự 1. Khái niệm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự Trước khi tìm hiểu về khái niệm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì cần phải xác định được các khái niệm có liên quan đến khái niệm này. Trước hết cần xác định được khái niệm cho vay.
Ngày nay, để phát triển kinh tế nhằm nâng cao đời sống vật chất của người dân thì việc đầu tư nguồn vốn để phát triển kinh tế đồng thời tìm kiếm nguồn vốn, tài chính để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày là gần như bắt buộc. Với nguồn tài chính dồi dào nhằm để hổ trợ giúp đỡ cho người khác và tăng nguồn thu nhập cho bản thân, nhiều cá nhân, tổ chức đã tận dụng nguồn vốn của mình cho các chủ thể khác vay, mượn để sinh hoạt và sản xuất. Để hiểu rõ thuật ngữ cho vay, người viết đưa ra một số khái niệm được chấp nhận rộng rãi tại Việt Nam về cho vay như sau: BLDS năm 2015 định nghĩa như sau về hợp đồng vay tài sản: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” (Điều 463) [36]. Còn đối với Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì cho vay: “là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam 8 kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo sự thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” (khoản 16 Điều 4) [34].
Ngoài ra, theo Từ điển luật học thì cho vay được hiểu là: “Bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền hoặc vật cùng loại để làm sở hữu trong thời hạn hoặc các bên đã thỏa thuận. Cho vay có thể có lãi hoặc không có lãi, người vay chỉ phải trả lãi nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” [9, tr. Theo Từ điển Tiếng Việt thì cho vay là: “đưa tiền cho vay trong một thời hạn nhất định rồi trả cả vốn lẫn tỷ suất lại” [59, tr. Theo Từ điển Tưởng giải và liên tưởng thì khái niệm cho vay là “tạm cho người khác sử dụng một khoản tiền hoặc vật dụng và sẽ được hoàn lại theo thỏa thuận” [25, tr.
Từ các khái niệm pháp lý và khái niệm trong từ điển Việt Nam, tác giả đưa ra khái niệm về cho vay như sau: cho vay là việc một người (người cho vay) cho người khác (người vay) sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình trong một thời gian xác định, sau đó người vay phải hoàn trả tài sản đó cho bên người cho vay với một khoản lãi suất theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Về khái niệm giao dịch dân sự, theo Điều 116 BLDS: "Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" [36]. Từ khái niệm giao dịch dân sự được quy định tại điều luật này có thể xác định: Hậu quả của việc xác lập giao dịch dân sự là làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lí (hành vi pháp lí đơn phương hoặc đa phương - một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp lí.
Tuỳ từng giao dịch cụ thể mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự. Giao dịch là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục 9 đích nhất định, cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, với những mục đích và động cơ nhất định. Trong giao dịch dân sự có ý chí và thể hiện ý chí của chủ thể tham gia giao dịch. Ý chí là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong của con người mà nội dung của nó được xác định bởi các nhu cầu về sản xuất, tiêu dùng của bản thân họ.
Ý chí phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định để các chủ thể khác có thể biết được ý chí của chủ thể muốn tham gia đã tham gia vào một giao dịch dân sự cụ thể. Bởi vậy, giao dịch dân sự phải là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí. Thiếu sự thống nhất này, giao dịch dân sự có thể bị tuyên bố là vô hiệu hoặc sẽ vô hiệu. Điều này không chỉ đúng với cá nhân mà đúng với cả pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác.
Bởi khi xác lập giao dịch dân sự các chủ thể này đều thông qua người đại diện. Người đại diện thể hiện ý chí của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác trong phạm vi thẩm quyền đại diện. Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch. Mục đích của giao dịch chính là hậu quả pháp lí sẽ phát sinh từ giao dịch mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch.
Nói cách khác, mục đích ở đây luôn mang tính pháp lí (mục đích pháp lí). Mục đích pháp lí (mong muốn) đó sẽ trở thành hiện thực, nếu như các bên trong giao dịch thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Ví dụ: Trong hợp đồng mua bán thì mục đích pháp lí của bên mua là sẽ trở thành chủ sở hữu tài sản mua bán, bên bán sẽ nhận tiền và chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua. Mục đích pháp lí đó sẽ trở thành hiện thực khi hợp đồng mua bán tuân thủ mọi quy định của pháp luật và bên bán thực hiện xong nghĩa vụ bàn giao tài sản mua bán, khi đó, hậu quả pháp lí phát sinh từ giao dịch trùng với mong muốn ban đầu của các bên (tức là với mục đích pháp lí).
10 Cũng có những trường hợp hậu quả pháp lí phát sinh không phù hợp với mong muốn ban đầu (với mục đích pháp lí). Điều đó có thể xảy ra do một trong hai nguyên nhân chính. Nguyên nhân thứ nhất là khi giao dịch đó là bất hợp pháp. Ví dụ: Khi người mua đã mua phải đồ trộm cắp thì không được xác lập quyền sở hữu mà có nghĩa vụ phải hoàn trả lại cho chủ sở hữu tài sản đó (người bán không phải là chủ sở hữu tài sản thì không thể chuyển giao quyền sở hữu tài sản đó cho người mua).
Nguyên nhân thứ hai là do chính các bên không tuân thủ nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch có hiệu lực. Ví dụ: Sau khi xác lập giao dịch, bên bán không thực hiện nghĩa vụ bàn giao vật cho nên họ phải chịu trách nhiệm dân sự. Mục đích pháp lí của giao dịch khác với động cơ xác lập giao dịch. Động cơ xác lập giao dịch dân sự là nguyên nhân thúc đẩy các bên tham gia giao dịch.
Động cơ của giao dịch không mang tính pháp lí. Khi xác lập giao dịch, nếu như động cơ không đạt được thì điều đó cũng không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của giao dịch. Mục đích luôn luôn được xác định còn động cơ có thể được xác định hoặc không. Ví dụ: Mua bán nhà ở - mục đích của người mua là quyền sở hữu nhà, còn động cơ có thể để ở, có thể để cho thuê, có thể bán lại.
Tuy nhiên, động cơ của giao dịch có thể được các bên thoả thuận và mang ý nghĩa pháp lí. Trong trường hợp này động cơ đã trở thành điều khoản của giao dịch, là một bộ phận cấu thành của giao dịch đó (như cho vay tiền để sản xuất - mục đích của người vay là quyền sở hữu số tiền nhưng họ chỉ được dựng tiền đó để sản xuất mà không được sử dụng vào hoạt động khác). Giao dịch dân sự là căn cứ phổ biến, thông dụng nhất trong các căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự; là phương tiện pháp lí quan trọng nhất trong giao lưu dân sự, trong việc dịch chuyển tài sản và cung ứng dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của tất cả các thành viên 11 trong xã hội. Trong nền sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường, thông qua giao dịch dân sự (hợp đồng) các chủ thể đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và các nhu cầu khác trong đời sống hàng ngày của mình.
Cuối cùng chúng ta cùng xác định khái niệm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự trong BLHS. Tội phạm Theo khoản 1 Điều 8 BLHS 2015 qui định: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được qui định trong BLHS, do người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hay vô ý, xâm phạm đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vện lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm đến quyền con người, quyền lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm đến những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN" [35]. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác. Như vậy, có thể thấy rằng khái niệm tội phạm đã trải qua nhiều năm lập pháp nhưng nội hàm của khái niệm này vẫn không có những thay đổi, về bản chất nó vẫn được coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi và chỉ bị xử lý khi hành vi đó được quy định cụ thể trong luật hình sự.
Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là một loại tội phạm được quy định trong BLHS.