Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Bắc Ninh là một trong những trung tâm công nghiệp trọng điểm của vùng đồng bằng sông Hồng với lực lượng lao động dồi dào hơn 700.000 người, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 20,4% và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đứng thứ 7 toàn quốc. Tốc độ đô thị hóa nhanh cùng sự tập trung của hàng loạt khu công nghiệp lớn đã thúc đẩy nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tăng cao. Tuy nhiên, sự phát triển này cũng kéo theo những hệ lụy phức tạp về an ninh trật tự, đặc biệt là sự bùng nổ của các tổ chức tín dụng đen và hành vi cho vay nặng lãi. Luận văn tập trung nghiên cứu tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 trên cơ sở thực tiễn áp dụng pháp luật tại tỉnh Bắc Ninh.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, phân tích các dấu hiệu pháp lý đặc trưng, đánh giá thực tiễn xét xử 22 vụ án với 79 bị cáo tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 5 năm từ năm 2016 đến năm 2020. Qua đó, luận văn nhận diện rõ những vướng mắc lập pháp và thực tiễn thi hành để đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả tư pháp. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc bảo vệ trật tự quản lý kinh tế, giữ vững an ninh tiền tệ, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng duy trì tỷ lệ giải quyết án hình sự đạt trên 98,08% đến 99,95%, đồng thời hỗ trợ kiểm soát các khoản vay có lãi suất thực tế vượt mức trần 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự nhằm ngăn chặn triệt để hành vi trục lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết cấu thành tội phạm trong khoa học luật hình sự Việt Nam kết hợp với lý thuyết kiểm soát và phòng ngừa tội phạm kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Cấu thành tội phạm của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 được làm sáng tỏ qua bốn yếu tố cơ bản:

Thứ nhất, khách thể của tội phạm là trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và quyền lợi tài chính hợp pháp của người tham gia giao dịch dân sự.

Thứ hai, mặt khách quan thể hiện qua hành vi cho người khác vay với mức lãi suất gấp từ 05 lần trở lên so với mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 (tức từ 100%/năm trở lên), đồng thời thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng ở khung cơ bản hoặc từ 100.000.000 đồng trở lên ở khung tăng nặng.

Thứ ba, chủ thể của tội phạm là cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự từ đủ 16 tuổi trở lên theo Điều 12 Bộ luật Hình sự, loại trừ pháp nhân thương mại do không thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 76 Bộ luật này.

Thứ tư, mặt chủ quan được xác định bởi lỗi cố ý trực tiếp với động cơ vụ lợi rõ rệt. Ngoài ra, nghiên cứu tích hợp các khái niệm chuẩn hóa từ Nghị quyết số 01/2019/HĐTP ngày 13/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về cách thức khấu trừ mức lãi suất hợp pháp 20%/năm để xác định chính xác số tiền thu lợi bất chính.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống hồ sơ xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và Tòa án nhân dân các huyện, thị xã, thành phố trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020 với tổng số 7.210 vụ án hình sự thụ lý. Cỡ mẫu nghiên cứu chuyên sâu bao gồm toàn bộ 22 vụ án và 79 bị cáo bị truy tố, xét xử về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (N = 22 vụ / 79 bị cáo) trên địa bàn 6 đơn vị hành chính: thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Quế Võ, huyện Thuận Thành, huyện Tiên Du và huyện Yên Phong.

Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu khảo sát toàn bộ (exhaustive sampling) đối với toàn bộ các vụ án đã xét xử về Điều 201 Bộ luật Hình sự trong giai đoạn nghiên cứu nhằm đảm bảo tính bao quát, khách quan và không sai lệch thống kê. Luận văn áp dụng kết hợp phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp tổng hợp quy nạp, phương pháp so sánh luật học và phương pháp thống kê hình sự. Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này là nhằm đối chiếu sự chuyển biến lập pháp qua các thời kỳ (Bộ luật Hình sự năm 1985, 1999 và 2015), định lượng hóa chính xác các biến số lãi suất từ 182,5%/năm đến hơn 500%/năm và làm rõ mối tương quan giữa sự thay đổi chính sách pháp luật với tỷ lệ khởi tố, xét xử tội phạm trên thực tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật tại tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2016 - 2020 cho thấy ba phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, có sự biến động mang tính phân hóa rõ rệt về số lượng vụ án trước và sau năm 2018. Trong giai đoạn 2016 - 2018, Tòa án hai cấp tỉnh Bắc Ninh không xét xử bất kỳ vụ án nào (0 vụ, 0 bị cáo). Ngược lại, trong giai đoạn 2019 - 2020, số lượng vụ án tăng vọt lên 22 vụ với 79 bị cáo. Trong đó, năm 2019 giải quyết 16 vụ với 28 bị cáo; năm 2020 tuy số lượng vụ án giảm xuống 6 vụ nhưng số bị cáo lại tăng mạnh lên 51 bị cáo (tăng 82,1% về số lượng bị cáo so với năm 2019), phản ánh xu hướng triệt phá các tổ chức tín dụng đen quy mô lớn.

Thứ hai, đặc điểm nhân thân và mô hình tổ chức phạm tội mang tính tập trung cao. Toàn bộ 100% bị cáo bị đưa ra xét xử là nam giới, tập trung chủ yếu trong độ tuổi từ 25 đến 55 tuổi. Tội phạm thường hoạt động dưới hình thức đồng phạm có tổ chức với tỷ lệ trung bình 3,59 bị cáo trên mỗi vụ án. Địa bàn tập trung đông nhất là thành phố Bắc Ninh với 6 vụ và 32 bị cáo, tiếp theo là thị xã Từ Sơn với 2 vụ nhưng có tới 25 bị cáo thuộc một đường dây tín dụng đen núp bóng công ty tài chính.

Thứ ba, phương thức phạm tội rất tinh vi với mức lãi suất áp đặt vượt xa trần luật định. Mức lãi suất cho vay thực tế dao động từ 5.000 đồng đến 15.000 đồng/triệu/ngày, tương đương 182,5%/năm đến 547,5%/năm (gấp từ 9,1 đến 27,3 lần mức trần 20%/năm theo quy định tại Bộ luật Dân sự). Điển hình như Bản án số 42/2019/HSST của Tòa án nhân dân huyện T đã xét xử đối tượng cho 10 người vay số tiền 480.000.000 đồng với lãi suất 182,5%/năm, thu lời bất chính 145.000.000 đồng sau khi khấu trừ 20%/năm lãi suất hợp pháp.

Thảo luận kết quả

Các số liệu thực nghiệm trên có thể được trình bày một cách trực quan qua bảng tổng hợp phân bố vụ án theo 6 địa bàn cấp huyện và biểu đồ cột so sánh số lượng bị cáo qua các năm nhằm phản ánh rõ nét sự chuyển dịch của tội phạm về các địa bàn có mật độ khu công nghiệp dày đặc. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng khung pháp lý là yếu tố quyết định hiệu quả xử lý tội phạm. Trước ngày 01/01/2018, quy định tại Điều 163 Bộ luật Hình sự năm 1999 với dấu hiệu "có tính chất chuyên bóc lột" mang tính định tính trừu tượng khiến cơ quan tố tụng không thể khởi tố.

Chỉ sau khi Chỉ thị số 12/CT-TTg ngày 25/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết số 01/2019/HĐTP ngày 13/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được ban hành, công tác điều tra và xét xử mới có căn cứ định lượng rõ ràng để bứt phá. Mặc dù vậy, thực tiễn xét xử tại Bắc Ninh cũng bộc lộ 5 khoảng trống pháp luật lớn:

Thứ nhất, mức hình phạt tù cao nhất tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự chỉ là 03 năm tù, chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của tội phạm có tổ chức.

Thứ hai, Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, tạo kẽ hở cho các doanh nghiệp tư vấn tài chính trục lợi.

Thứ ba, Điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP chỉ phạt hành chính đối với hành vi cho vay có cầm cố tài sản mà bỏ sót hình thức cho vay tín chấp không cầm cố.

Thứ tư, pháp luật mới chỉ quy định lãi suất trần đối với tài sản là tiền mà chưa có hướng dẫn đối với tài sản vay là vàng hay hiện vật khác.

Thứ năm, việc tịch thu toàn bộ tiền gốc của bên cho vay như phương tiện phạm tội theo Điều 47 Bộ luật Hình sự còn gây ra nhiều tranh cãi về mặt bảo vệ giao dịch dân sự hợp pháp.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao hiệu quả phòng ngừa và xử lý tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, Quốc hội và Bộ Tư pháp cần hoàn thiện Bộ luật Hình sự năm 2015 trong giai đoạn 2022 - 2025 bằng việc tăng mức hình phạt tối đa tại khoản 1 Điều 201 lên 3 năm tù và khoản 2 lên 7 năm tù; đồng thời bổ sung Điều 201 vào danh mục các tội danh mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 76 nhằm triệt tiêu các vỏ bọc doanh nghiệp tín dụng đen.

Thứ hai, Chính phủ và Bộ Công an cần ban hành Nghị định mới thay thế Nghị định 167/2013/NĐ-CP trong thời hạn 12 tháng tới, bổ sung mức xử phạt vi phạm hành chính từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi cho vay lãi nặng không cầm cố tài sản để tạo tiền đề xử lý hình sự đối với trường hợp tái phạm.

Thứ ba, Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh cần tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ định kỳ 6 tháng/lần cho 100% cán bộ, Thẩm phán và Kiểm sát viên tại 8 đơn vị hành chính cấp huyện nhằm chuẩn hóa phương pháp bóc tách khoản thu lợi bất chính và giải quyết thỏa đáng việc xử lý vật chứng tiền gốc theo đúng tinh thần Nghị quyết số 01/2019/HĐTP.

Thứ tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai các gói tín dụng vi mô ưu đãi với hạn mức từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hướng tới hơn 700.000 lao động tại các khu công nghiệp trọng điểm như Yên Phong, Quế Võ, Tiên Du trong giai đoạn 2022 - 2025 để thu hẹp không gian hoạt động của tín dụng đen.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và ứng dụng thực tiễn cao dành cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng: Luận văn cung cấp phương pháp định tội danh chuẩn xác theo Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 và quy trình khấu trừ lãi suất hợp pháp 20%/năm để xác định khoản thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên trong các vụ án đồng phạm phức tạp.

Thứ hai, Cơ quan lập pháp và các nhà hoạch định chính sách: Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn từ 22 vụ án và 5 bất cập pháp lý để phục vụ việc sửa đổi Bộ luật Hình sự, hoàn thiện quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân và xây dựng chế tài xử phạt hành chính mới.

Thứ ba, Luật sư và chuyên viên tư vấn pháp luật: Luận văn hỗ trợ xây dựng lập luận pháp lý, phân biệt rõ ràng giữa hợp đồng vay tài sản hợp pháp theo Điều 468 Bộ luật Dân sự với các giao dịch tín dụng đen biến tướng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.

Thứ tư, Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Luật Hình sự: Công trình là nguồn tài liệu học thuật giá trị, cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm 5 năm (2016 - 2020) tại Bắc Ninh để phục vụ nghiên cứu và giảng dạy về nhóm tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.

Câu hỏi thường gặp

Mức lãi suất và số tiền thu lợi bao nhiêu thì cấu thành tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự? Hành vi cho vay cấu thành tội phạm khi mức lãi suất áp dụng gấp từ 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự (tương đương từ 100%/năm trở lên) và người cho vay thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên hoặc đã bị xử phạt hành chính, kết án chưa xóa án tích.

Khoản tiền thu lợi bất chính được tính toán cụ thể như thế nào để xác định trách nhiệm hình sự? Căn cứ theo Nghị quyết số 01/2019/HĐTP, khoản tiền thu lợi bất chính được xác định bằng tổng số tiền lãi thực tế mà người phạm tội thu được của người vay sau khi đã trừ đi số tiền lãi tối đa 20%/năm mà Bộ luật Dân sự cho phép.

Tại sao trong giai đoạn 2016 - 2018 tỉnh Bắc Ninh không xét xử vụ án nào về tội cho vay lãi nặng? Do thời kỳ này Bộ luật Hình sự năm 1999 yêu cầu dấu hiệu "có tính chất chuyên bóc lột" rất khó định lượng trên thực tế. Đồng thời, Bộ luật Hình sự năm 2015 phải đến ngày 01/01/2018 mới có hiệu lực và đến tháng 9/2019 mới có Nghị quyết số 01/2019/HĐTP hướng dẫn thi hành.

Tiền gốc dùng để cho vay trong các vụ án tín dụng đen có bị tịch thu sung công quỹ nhà nước không? Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2019/HĐTP, toàn bộ số tiền gốc được xác định là phương tiện trực tiếp dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử sẽ tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Pháp nhân thương mại có bị xử lý hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự không? Theo Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015, tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự tại Điều 201 không thuộc phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, do đó cơ quan tố tụng hiện nay chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân thực hiện hành vi.

Kết luận

• Luận văn chuẩn hóa hệ thống lý luận về 4 yếu tố cấu thành tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015. • Đánh giá toàn diện thực tiễn xét xử 22 vụ án với 79 bị cáo tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2016 - 2020. • Nhận diện 5 bất cập lập pháp trọng yếu liên quan đến khung hình phạt tối đa 3 năm tù, pháp nhân thương mại và xử phạt hành chính. • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ về sửa đổi chính sách hình sự, tập huấn tư pháp và mở rộng tín dụng chính sách cho hơn 700.000 lao động. • Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm kinh tế trong thời kỳ hội nhập.

Các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng nghiên cứu pháp lý cần nhanh chóng tham khảo, ứng dụng các phát hiện từ luận văn để tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm tín dụng đen trong giai đoạn tới.