Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động thanh tra nội bộ trong đơn vị sự nghiệp công lập do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của thanh tra nội bộ từ thực tiễn Đại học Quốc gia Hà Nội Chương 3: Phương hướng, giải pháp kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả của thanh tra nội bộ trong đơn vị sự nghiệp công lập do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA NỘI BỘ TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP DO THỦ TƢỚNG CHÍNH PHỦ QUYẾT ĐỊNH THÀNH LẬP 1. Quan niệm về thanh tra trong đơn vị sự nghiệp công lập do Thủ tƣớng Chính phủ quyết định thành lập 1. Khái quát đơn vị sự nghiệp công lập Nước ta đã trải qua các giai đoạn giai đoạn phát triển nhận thấy cần bỏ cơ chế tập trung và bao cấp cần phải tập chung, nắm giữ cũng như điều tiết những hoạt động kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô, không can thiệp quá sâu vào tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như trước đây.
Sự ra đời của các ĐVSNCL giúp chia sẻ bớt gánh nặng với nhà nước trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ công, góp phần cùng nhà nước thực hiện tốt chức năng xã hội của mình. Ngoài chức năng cung cấp dịch vụ công, ĐVSNCL còn có chức năng phục vụ quản lý nhà nước. Cũng chính từ sự đa dạng của các dịch vụ công và quá trình thu hẹp phạm vi kiểm soát của nhà nước trong lĩnh vực này mà nhà nước cần có một tổ chức có thể dễ dàng cho việc quản lý, kiểm soát cả về số lượng cũng như chất lượng của các loại hình dịch vụ công. Cơ cấu tổ chức của các cơ quan hành chính nhà nước trước đây ĐVSNCL là một bộ phận cấu thành quan trọng.
Cơ chế tài chính của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công là cơ bản giống nhau, về kinh phí hành chính trong quá trình thực thi nhiệm vụ, về biên chế và tổ chức hoạt động, trong khi các ĐVSNCL lại có những đặc điểm khác biệt với các cơ quan hành chính, vì vậy một yêu cầu cấp bách cần phải thực hiện đó là cải cách và tách chức năng quản lý nhà nước của cơ quan hành chính với cung cấp dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp. Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 kèm theo Quyết định 136/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cũng đưa ra nội dung cải cách tổ chức bộ máy trong đó có vấn đề tách chức năng quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang bộ đối với ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước với chức năng điều hành các tổ chức sự nghiệp công trực thuộc Bộ, cơ quan ngang bộ; theo đó, tách tổ chức hành chính với tổ chức sự nghiệp công để hoạt động theo các cơ chế riêng, phù hợp, có hiệu quả. Trong phương hướng, nhiệm vụ cải cách hành chính hành chính giai đoạn II (2006-2010), Chính phủ vẫn chủ trương cải cách các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công, bảo đảm tách rõ hành chính với sự nghiệp, hoàn thiện thể 8 chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công trong tổ chức và hoạt động. [10] Trong lộ trình cải cách đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16 tháng 1 năm 2002 về chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu, ngày 25/4/2006 Chính phủ có Nghị định số 43/2006/NĐ-CP quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính đối với ĐVSNCL.
Trong Luật Viên chức năm 2010, được quy định tại Khoản 1, Điều 9 “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước.” [26] Như vậy ĐVSNCL được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội theo quy định của pháp luật; là bộ phận cấu thành không thể thiếu trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; ĐVSNCL có tư cách pháp nhân, với nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công phục vụ quản lý nhà nước; Trong ĐVSNCL có lực lượng lao động chủ yếu là viên chức, đây là đặc trưng cơ bản của ĐVSNCL để phân biệt với cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, tổ chức khác… ĐVSNCL là bộ phận cấu thành trong cơ cấu cơ quan tổ chức nhà nước nhưng không mang tính quyền lực nhà nước, không có chức năng quản lý nhà nước và hoàn toàn bình đẳng với các tổ chức, cá nhân trong quan hệ cung cấp dịch vụ công; ĐVSNCL được thành lập theo trình tự thủ tục chặt chẽ. Luật Viên chức năm 2010 quy định 2 loại ĐVSNCL gồm: Đơn vị được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự và đơn vị chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự. Xét dưới góc độ vị trí pháp lý, ĐVSNCL có thể chia thành 5 loại sau: đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ; đơn vị thuộc Tổng cục, Cục; đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; đơn vị thuộc cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Trong đó, ĐVSNCL thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ bao gồm: Các ĐVSNCL được quy định tại nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng Bộ, cơ quan ngang Bộ (các đơn vị nghiên cứu chiến lược, chính sách về 9 ngành, lĩnh vực; báo; tạp chí; trung tâm thông tin hoặc tin học; trường hoặc trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; học viện) và các ĐVSNCL trong danh sách ban hành kèm theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
[21] Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28 tháng 6 năm 2012 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập quy định nguyên tắc chung về thẩm quyền thành lập đơn vị sự nghiệp công lập. Theo quy định tại Điều 17 Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28 tháng 6 năm 2012 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập quy định nguyên tắc chung về thẩm quyền thành lập đơn vị sự nghiệp công lập. Thủ tướng chính phủ có thẩm quyền: Phê duyệt quy hoạch mạng lưới tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập trong phạm vi toàn quốc; Quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể ĐVSNCL thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (trừ các ĐVSNCL được quy định tại Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ); ĐVSNCL trực thuộc tổng cục và tổ chức tương đương tổng cục; ĐVSNCL thuộc tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập mà không phải là ĐVSNCL; ĐVSNCL thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh; ĐVSNCL thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể ĐVSNCL theo quy định của luật chuyên ngành. [3] Theo đó, trình tự, thủ tục thành lập ĐVSNCL được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28 tháng 6 năm 2012 của Chính phủ sau khi đáp ứng các điều kiện: Xác định mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ; Phù hợp với quy hoạch mạng lưới tổ chức ĐVSNCL đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (nếu có); Có trụ sở làm việc hoặc đề án quy hoạch cấp đất xây dựng trụ sở đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (trường hợp xây dựng trụ sở mới); trang thiết bị cần thiết ban đầu; nguồn nhân sự và kinh phí hoạt động theo quy định của pháp luật.
Quan niệm thanh tra trong đơn vị sự nghiệp công lập do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập 1. Quan niệm chung về thanh tra Thanh tra theo tiếng Anh (Inspect) - xuất phát từ gốc Latinh (In - Spectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong", chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định. 10 Theo Từ điển tiếng Việt “thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. Với nghĩa này, thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm “xem xét và phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định”.
Thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định: “người làm nhiệm vụ thanh tra”, “đoàn thanh tra” và “đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định”. Trong lịch sử của nước ta, tên gọi “Thanh tra” chưa tồn tại qua các thời kỳ phong kiến và trong từng thời kỳ khác nhau, quan niệm về thanh tra được thể hiện khác nhau theo quy định của pháp luật. Chức năng tương tự như hoạt động thanh tra đã hình thành. Thời kỳ nhà Lý đã có chức quan “Đại sử đại phu” đặt ra dưới chiều Lý Thái Tổ hoặc “Gián Nghị đại phu” như trường hợp Lý Đạo Thành; thời Lý Thái Tông đặt thêm chức “Tả hữu phu”… Chức năng của cơ quan thanh tra đã hình thành dưới triều đại phong kiến thông qua hoạt động của Ngự sử đài (hoặc Đô sát viện).
Ngự sử đài được trao nhiệm vụ thay mặt vua để xem xét, giải quyết các khiếu kiện của dân và giám sát hoạt động của bộ máy quan lại. Trong thời kỳ phong kiến chế độ thanh tra tra giám sát hoạt động tương đối độc lập. Ví dụ, một quan tri phủ mắc lỗi thì Hiến sát không cần thông qua quan cấp trấn (cấp tỉnh) mà có quyền tâu thẳng lên Ngự sử đài hoặc trực tiếp lên Bộ Hình, thậm chí lên cả vua. Ngay cả Bộ Lại là bộ có quyền hành cao nhất trong triều đình trong việc tuyên bổ, thăng gián, bãi miễn quan lại song nếu thăng bổ không xứng thì Lại Khoa vừa có quyền giới thiệu người khác vừa có quyền tố giác theo nguyên tắc lớn nhỏ, trong ngoài cùng ràng buộc lẫn nhau.
Ngoài ra, triều đình còn có chế độ giám sát đặc biệt khác. [31] Kể từ khi giành được độc lập năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.