CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. TỔNG QUAN VỀ KTQT CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Bản chất, vai trò của KTQT chi phí a. Bản chất KTQT chi phí Bản chất của kế toán quản trị chi phí trước hết thể hiện ở bản chất của kế toán, bởi vì kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán.
Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu đời, có rất nhiều định nghĩa về kế toán dưới các góc độ khác nhau, tuy nhiên trong phần này tác giả chỉ phân tích hai định nghĩa cơ bản dưới góc độ bản chất và nội dung của kế toán. Về bản chất, kế toán được định nghĩa là một bộ phận của hoạt động quản lý, với chức năng xử lý và cung cấp thông tin thực hiện về khách thể quản lý cho chủ thể quản lý [4]. Quá trình sản xuất ra của cải vật chất là yêu cầu tất yếu khách quan cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Để quá trình sản xuất được thực hiện một cách có hiệu quả cần phải có hoạt động quản lý, tức là hoạt động định hướng cho quá trình sản xuất và tổ chức thực hiện theo những hướng đã định.
Trong hoạt động quản lý này, kế toán đóng vai trò là cầu nối thông tin giữa khách thể quản lý và chủ thể quản lý. Về nội dung của kế toán, kế toán được định nghĩa là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán [7]. Dưới góc độ này, kế toán cần áp dụng hệ thống các phương pháp đặc thù (chứng từ, đối ứng tài khoản, tính giá và tổng hợp – cân đối) để cung cấp các thông tin phù hợp, tin cậy và so sánh được nhằm giúp cho những người sử dụng thông tin đưa ra được các quyết định đúng đắn đối với tổ chức. Trong nội dung kế toán nêu trên bao hàm cả kế toán tài chính và kế toán quản trị.
Kế toán tài chính là một bộ phận kế toán cung cấp thông tin chủ yếu cho các chủ 6 thể quản lý bên ngoài tổ chức, còn kế toán quản trị là một bộ phận kế toán hướng tới mục tiêu cung cấp thông tin cho các chủ thể quản lý trong nội bộ tổ chức. Như vậy, về bản chất, KTQT chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị. KTQT chi phí cung cấp những thông tin về chi phí trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của doanh nghiệp. Mục đích của KTQT chi phí là cung cấp thông tin cho nhu cầu quản trị doanh nghiệp.
KTQT chi phí phục vụ chủ yếu cho việc quản trị chi phí, ra các quyết định quản trị. KTQT chi phí không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính thực sự phát sinh và hoàn thành mà còn cung cấp các thông tin phục vụ cho việc ra các quyết định tương lai trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vai trò của kế toán quản trị chi phí. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải lập cả kế hoạch ngắn hạn và dài hạn.
Từ kế hoạch chung của doanh nghiệp các bộ phận triển khai thành kế hoạch riêng của bộ phận, đơn vị mình. Để thực hiện vai trò của mình, kế toán quản trị chi phí tiến hành lập dự toán chi phí để trợ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng lập kế hoạch. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các mục tiêu mà kế hoạch đã đề ra, kế toán quản trị chi phí đã cung cấp thông tin cho việc quản lý đến từng công việc cụ thể, như: quản lý sản xuất tác nghiệp, quản lý tồn kho, quản lý chi phí,. Kế toán quản trị chi phí còn được coi là công cụ để đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu kế hoạch - thông qua việc phân tích các chi phí, từ đó có những quyết định hợp lý để hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng đạt hiệu quả cao hơn.
Kế toán quản trị chi phí giúp thực hiện chức năng kiểm tra của quản lý một cách rất hiệu quả thông qua việc thu thập và cung cấp các thông tin chi tiết về tình hình thực hiện kế hoạch, phát hiện các khoản chênh lệch so với kế hoạch và các nguyên nhân dẫn đến tình hình đó, giúp nhà quản lý nắm bắt hoạt động nào đem lại lợi ích, hoạt động nào đang duy trì lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp,… Với khả năng cung cấp thông tin về chi phí và lợi nhuận thu được từ từng loại sản phẩm, dịch vụ, từng lĩnh vực hoạt động, từng bộ phận,… kế toán quản trị chi phí sẽ rất hữu ích trong việc kiểm soát chi phí sản xuất và vòng đời của sản 7 phẩm cũng như hiệu quả của từng hoạt động. Có thể nói, kế toán quản trị chi phí đóng vai trò kiểm soát toàn bộ các khâu của hoạt động kinh doanh một cách rất cụ thể, chi tiết và thường xuyên. Ngoài ra, trong một số tình huống đặc biệt, các thông tin về chi phí đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định giá bán sản phẩm, nhất là trong các trường hợp sản xuất theo yêu cầu của khách hàng mà chưa có giá trên thị trường. Trong môi trường kinh doanh ở giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, vai trò của KTQT càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Việc ứng dụng KTQT vào doanh nghiệp sẽ giúp tiết kiệm được chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động. Sự phát triển của KTQT chi phí ở các nước và sự vận dụng ở Việt Nam Cùng với sự ra đời và phát triển của kế toán nói chung, KTQT chi phí nói riêng cũng có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài: - Sự phát triển của KTQT chi phí diễn ra vào đầu thế kỷ XIX. Cuối thế kỷ XIX, KTQT chi phí được sử dụng rộng rãi trong các cơ sở sản xuất. Chủ các xưởng dệt ở Mỹ lưu giữ những bản ghi chi phí chi tiết, xác định chi phí cho từng công đoạn kéo sợi, dệt vải, nhuộm vải.
Các nhà quản lý các hãng xe lửa đã áp dụng các hệ thống kế toán chi phí khá lớn và phức tạp có thể tính toán chi phí cho các mức hàng chuyên chở khác nhau. Các xưởng thép cũng có các bản ghi chi tiết về chi phí nguyên vật liệu và nhân công, những thông tin này trợ giúp việc nâng cao hiệu quả quản lý và định giá sản phẩm. Hầu hết các cách thức của kế toán chi phí và kế toán nội bộ thực hiện trong thế kỷ XX đều được bắt đầu phát triển trong giai đoạn 1880 – 1925. - Sau những năm cuối thập niên 1920, KTQT chi phí hầu như không có những bước phát triển mới.
Các nhà nghiên cứu cũng chưa tìm ra những lý do chính xác cho sự chững lại của kế toán quản trị chi phí trong giai đoạn này. Nhưng thông tin về chi phí trên các báo cáo của kế toán tài chính được yêu cầu cao hơn có thể là một trong những nguyên nhân để hệ thống KTQT chi phí hầu như chỉ tập trung vào việc đáp ứng các yêu cầu đó và sao nhãng việc cung cấp thông tin chi phí một cách chi tiết hơn về từng sản phẩm riêng lẻ. Đặc biệt là sau chiến tranh thế giới thứ hai, trong 8 khi các nền kinh tế khác đều kiệt quệ thì nền kinh tế Mỹ phát triển nhanh chóng, chiếm một nửa tổng giá trị sản phẩm của cả thế giới. Với bối cảnh như vậy, các công ty Mỹ không thấy có sức ép về nhu cầu thông tin đối với lợi nhuận của từng loại sản phẩm đơn lẻ.
Những năm 1950 – 1960 cũng có một số nỗ lực nhằm nâng cao tính hữu ích về mặt quản lý của hệ thống kế toán chi phí truyền thống, tuy nhiên những nỗ lực này chủ yếu tập trung vào việc làm cho các thông tin kế toán tài chính có ích hơn đối với nội bộ. - Đến tận thập niên 1960, 1970 nền kinh tế thế giới không chỉ có sự thống trị của một mình kinh tế Mỹ, mà với sự phát triển của các nền kinh tế Âu – Á, đặc biệt là nền kinh tế Nhật Bản, cạnh tranh giữa các nền kinh tế này ngày càng gay gắt, dẫn đến nhu cầu cần có một hệ thống kế toán quản trị chi phí hiệu quả hơn, hiện đại hơn. Chính vì vậy, trong những năm cuối thế kỷ XX có rất nhiều đổi mới trong hệ thống KTQT chi phí được thực hiện ở các nước Mỹ, Âu, Á. Hệ thống KTQT chi phí được thiết kế lại để đáp ứng các nhu cầu thông tin thay đổi do sự thay đổi của cách thức sản xuất và phân phối các sản phẩm.
Hệ thống KTQT chi phí không chỉ cần thiết trong các đơn vị sản xuất mà còn cần thiết trong cả các đơn vị kinh doanh dịch vụ. Các phương pháp KTQT chi phí mới được ra đời và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới, như các phương pháp target costing (chi phí mục tiêu), Kaizen costing (chi phí hoàn thiện liên tục)… - Ở Việt Nam, trước những năm 1990, với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các đơn vị không phải chịu sức ép cạnh tranh nên không thấy nhu cầu cần phải có hệ thống KTQT chi phí. Khái niệm KTQT chi phí không tồn tại trong ý niệm của các nhà quản lý cũng như trên thực tế, mặc dù các chế độ kế toán thời đó cũng có những dáng dấp của hệ thống KTQT chi phí. Cùng với sự đổi mới nền kinh tế sang cơ chế thị trường, khái niệm về KTQT và KTQT chi phí xuất hiện tại Việt Nam từ đầu những năm 1990 và được nghiên cứu có hệ thống từ những năm 1999, tuy nhiên thực tế áp dụng KTQT tại các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế.
PHÂN LOẠI CHI PHÍ THEO YÊU CẦU KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động a. Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí liên quan đến việc sản xuất sản phẩm trong một kỳ nhất định, bao gồm ba khoản mục cơ bản sau: - Chi phí NVL trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm các loại nguyên liệu và vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm. - Chi phí nhân công trực tiếp: Là tiền lương chính, lương phụ, các khoản trích theo lương và các khoản phải trả khác cho công nhân trực tiếp sản xuất.