Phần Mở đầu, Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung đề tài đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở khoa học về thực thi chính sách đối với thƣơng binh, bện binh. Thực trạng thực thi chính sách đối với thƣơng binh, bệnh binh tại huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Chƣơng 3 Giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách đối với thƣơng binh, bệnh binh tại huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI THƢƠNG BINH, BỆNH BINH 1.1 Thƣơng bệnh binh và chính sách đối với thƣơng bệnh binh 1.1 Thương binh, bệnh binh 1.1 Thương binh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xƣớng và nêu lên những quan điểm ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng tro12ng đó có thƣơng binh. Lần đầu tiên Bác nói đến khái niệm “thương binh” khi gửi lời khen ngợi các chiến sỹ bị thƣơng và sự tận tâm của các y bác sỹ khám hộ, cứu thƣơng ngày 08/01/1947: “Tôi tiếp nhiều nam, nữ chiến sỹ bị thương hăng hái hứa với tôi rằng hễ vết thương khỏi, thì lại xin ra mặt trận… Các chiến sỹ đã hy sinh xương máu để giữ gìn đất nước, nay đã bị thương mà còn mong mỏi đi đánh giặc… Tôi được báo cáo rằng: Các thầy thuốc và khám hộ đều hết lòng săn sóc thương binh một cách chu đáo”. Lời của Bác giản dị mà sâu sắc, ngắn gọn mà dễ hiểu và rất đầy đủ và rất đầy đủ về thƣơng binh – thƣơng binh là các chiến sỹ đã “hy sinh xương máu để giữ gìn đất nước”. Theo Điều 12 Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thƣơng binh, ngƣời hoạt động kháng chiến, ngƣời có công giúp đỡ Cách mạng đƣợc Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội thông qua ngày 19/8/1994 có quy định: Thƣơng binh là quân nhân, công an nhân dân do chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế hoặc trong đấu tranh chống thực dân Pháp, dũng cảm làm nhiệm vụ đặc biệt khó khăn, nguy hiểm vì lợi ích của Nhà nƣớc, của nhân dân mà bị thƣơng, mất sức lao động từ 21% trở lên và đƣợc cơ quan có thẩm quyền cấp “giấy chứng nhận thương binh”, tặng “huy hiệu thương binh”.
Quy định nhƣ vậy phù hợp với hoàn cảnh đất nƣớc đã hòa bình, mở rộng khái niệm thƣơng 12 binh cho cả những trƣờng hợp bị thƣơng khi “đấu tranh chống tội phạm, dũng cảm làm nhiệm vụ đặc biệt khó khăn, nguy hiểm vì lợi ích của nhà nước và nhân dân”. Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời có công với Cách mạng số 26/2005/PL- UBTVQH11 ngày 26/5/2005 ra đời thay thế Pháp lệnh năm 1994 đã có quy định thống nhất, rõ ràng về khái niệm thƣơng binh tại Khoản 1 Điều 19 và đƣợc sửa đổi bổ sung tại Pháp lệnh 04/2012/UBTVQH13: Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thƣơng làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, đƣợc nhà nƣớc có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận thƣơng binh và huy hiệu thƣơng binh thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; Bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thƣơng tích; Làm nghĩa vụ quốc tế; Đấu tranh chống tội phạm; Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách nguy hiểm, phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu ngƣời, cứu tài sản của Nhà nƣớc và nhân dân; Làm nhiệm vụ quốc phòng an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ do cơ quan có thẩm quyền giao; Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm; Có 4 loại mức thƣơng tật đối với thƣơng binh: + Thương binh hạng 1: Là đối tƣợng đƣợc hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền quyết định kết luận mất sức lao động từ 81% trở lên. + Thương binh hạng 2: Là đối tƣợng đƣợc hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền quyết định kết luận mất sức lao động từ 61- 80%. + Thương binh hạng 3: Là đối tƣợng đƣợc hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền quyết định kết luận mất sức lao động từ 41- 60%.
+ Thương binh hạng 4: Là đối tƣợng đƣợc hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền quyết định kết luận mất sức lao động từ 21- 40%.2 Người hưởng chính sách như thương binh: ngoài những ngƣời thuộc lực lƣợng vũ trang bị thƣơng trong khi làm nhiệm vụ, còn có trƣờng hợp ngƣời không thuộc lực lƣợng vũ trang, bị thƣơng trong trƣờng hợp tƣơng tự làm suy giảm khả năng lao động, họ cũng xứng đáng đƣợc hƣởng những ƣu đãi của Nhà nƣớc và toàn xã hội, đó là những ngƣời hƣởng chính sách nhƣ thƣơng binh. Trƣớc đây, pháp luật của nhà nƣớc không công nhận trƣờng hợp này. Hiện nay, quy định trƣờng hợp ngƣời hƣởng chính sách nhƣ thƣơng binh nhằm mục đích ghi nhận công lao của những ngƣời không thuộc lực lƣợng vũ trang nhân dân nhƣng có hành vi dũng cảm vì lợi ích chung của Nhà nƣớc, của nhân dân. Họ là những công dân gƣơng mẫu, nêu gƣơng sáng cho mọi ngƣời học tập, xứng đáng đƣợc hƣởng ƣu đãi của Nhà nƣớc cũng nhƣ của toàn xã hội.
Cũng tại Khoản 12, Điều 1 của Pháp lệnh 04/2012 sửa đổi bổ sung một số Điều của Pháp lệnh 26/2005/PL-UBTVQH11 đã đƣa ra khái niệm ngƣời hƣởng chính sách nhƣ thƣơng binh: Người hưởng chính sách như thương binh là ngƣời không phải là quân nhân, công an nhân dân bị thƣơng trong các trƣờng hợp quy định đối với thƣơng binh, mất sức lao động từ 21% trở lên đƣợc các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cấp “Giâý chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh” Thương binh loại B: là quân nhân, công an nhân dân bị thƣơng, làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên trong khi tập luyện, công tác đã đƣợc cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận trƣớc ngày 31 tháng 12 năm 1993. Từ tháng 1/1995 thƣơng binh, ngƣời hƣởng chính sách nhƣ thƣơng binh và thƣơng binh loại B gọi chung là thƣơng binh.3 Bệnh binh: Theo quy định tại khoản 12, Điều 1 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng (sửa đổi bổ sung Điều 23- Pháp lệnh 26/2005/UBTVQH11) [47]: Bệnh binh là quân nhân, công an nhân 14 dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên khi xuất ngũ về gia đình đƣợc cơ quan đơn, vị có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận bệnh binh” thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; Hoạt động liên tục ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ mƣời lăm tháng trở lên; Hoạt động ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn chƣa đủ mƣời lăm tháng nhƣng đã có đủ mƣời năm trở lên công tác trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; Đã công tác trong Quân dội nhân dân, Công an nhân dân đủ mƣời lăm năm nhƣng không đủ điều kiện hƣởng chế độ hƣu trí; Làm nghĩa vụ quốc tế; Thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng an ninh; Khi đang làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao.4 Nhu cầu và đặc điểm tâm lý của thương binh, bệnh binh Nhu cầu Cũng nhƣ mọi ngƣời, ngƣời có công với Cách mạng nói chung và Thƣơng binh, bệnh binh nói riêng rất cần có một cuộc sống vật chất và tinh thần đầy đủ, no ấm và hạnh phúc. Mặt khác họ đã có nhiều cống hiến hy sinh, chịu nhiều thiệt thòi mất mát vì sự nghiệp chung của dân tộc, do đó họ cần đƣợc mọi ngƣời tôn trọng, quan tâm chăm sóc, chia sẻ, động viên họ nhiều hơn để họ vơi đi nỗi đau mất mát, quên đi bệnh tật. Đặc điểm tâm lý Là những ngƣời đã từng vào sinh ra tử nơi chiến trƣờng để bảo vệ Tổ quốc, nên khi trở về với cuộc sống đời thƣờng họ vẫn luôn có ý thức về quá khứ cống hiến của mình cho cách mạng, có tinh thần trách nhiệm giữ gìn những phẩm chất và truyền thống cách mạng.
Đại bộ phận thƣơng binh, bệnh binh luôn gƣơng mẫu trong đời sống và công tác, thể hiện thái độ trung thành với chế độ mà mình đã đem xƣơng máu, sức lực ra chiến đấu, bảo vệ. Khi hoà bình lập lại cho đến nay nhiều trong số họ dù mang trong mình những thƣơng tích, thƣơng tật, bệnh tật nhƣng vẫn nỗ lực cố gắng vƣơn lên tìm cho mình một công việc phù hợp để 15 vƣợt qua những khó khăn trong cuộc sống, góp phần xây dựng tổ quốc và nhiều ngƣời đã trở thành tấm gƣơng lao động giỏi, chiến sỹ thi đua, nhà khoa học, nhà quản lý có uy tín. Họ có tâm trạng mặc cảm thấy thua thiệt, mất mát so với những ngƣời xung quanh nên họ thích đƣợc mọi ngƣời quan tâm. Ngoài ra, những thƣơng binh, bệnh binh họ còn có những đặc điểm tâm lý riêng: Đối với thƣơng binh, bệnh binh thời kỳ kháng chiến chống Pháp: hiện nay số còn sống rất ít, tuổi đã cao, họ sống khiêm tốn, giản dị ít đòi hỏi quyền lợi cá nhân.
Nhu cầu vật chất giản dị, nhƣng tinh thần thông tin thời sự, chính trị lại khá cao, họ thích tìm hiểu và tham gia bình luận tình hình thế giới và trong nƣớc, muốn có nhiều bạn bè để cùng nhau ôn lại kỉ niệm về tháng năm hào hùng đã qua. Đối với thƣơng, bệnh binh thời kỳ kháng chiến chống Mỹ: đại đa số họ ở độ tuổi trung niên, có trình độ văn hoá và chính trị, nhạy cảm với các chính sách, chế độ của Đảng và Nhà nƣớc, nhất là những vấn đề liên quan tới họ. Họ có ý thức tự chủ, tự kiềm chế, đúng đắn, hăng hái nhiệt tình tham gia các hoạt động xã hội cũng nhƣ các công tác khác đƣợc giao. Bên cạnh đó có một số ít đối tƣợng có tƣ tƣởng công thần, ỷ vào công lao cống hiến để đòi hỏi, thậm chí một số ít còn lợi dụng chính sách ƣu đãi của Đảng và Nhà nƣớc để làm trái pháp luật.
Nắm bắt đƣợc đặc điểm tâm lý cũng nhƣ nhu cầu của họ sẽ có ý nghĩa rất quan trọng để đƣa ra những giải pháp hỗ trợ phù hợp, đem lại hiệu quả cao, nhằm bù đắp phần nào những hy sinh cống hiến to lớn của ngƣời có công với cách mạng.2 Chính sách thương binh, bệnh binh 1.