Luận văn thạc sĩ thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố từ thực tiễn viện kiểm sát nhân dân tỉnh cao bằng

Luận văn thạc sĩ phân tích thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố tại Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Cao Bằng, đánh giá hiệu quả và đề xuất giải pháp.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

89
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân

1.2. Nội dung thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố của VKSND

1.3. Các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về THQCT của VKSND

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

2.1. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố của Viện KSND tỉnh Cao Bằng

2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng

2.3. Nhận xét, đánh giá

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

3.1. Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng

3.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng

KẾT LUẬN

Danh mục tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Luận Văn Thạc Sĩ

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hồng Thắm tập trung vào việc thực hiện pháp luật về quyền công tố tại Viện Kiểm Sát Nhân Dân (VKSND) tỉnh Cao Bằng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này. Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Trần Thị Lâm Thi, thuộc Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.

1.1. Mục đích và nhiệm vụ

Mục đích chính của luận văn là đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền công tố tại VKSND tỉnh Cao Bằng. Nhiệm vụ bao gồm phân tích lý luận, đánh giá thực trạng, và chỉ ra các hạn chế trong quá trình thực hiện pháp luật. Nghiên cứu cũng tập trung vào các yếu tố tác động đến hoạt động thực hiện quyền công tố tại địa phương.

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận và thực trạng thực hiện pháp luật về quyền công tố tại VKSND tỉnh Cao Bằng. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019, tập trung vào các hoạt động thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự.

II. Pháp Luật và Quyền Công Tố

Pháp luật về quyền công tố là một trong những chức năng hiến định của VKSND, được quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013. Quyền công tố bao gồm việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với người phạm tội và bảo vệ sự buộc tội đó. Luận văn phân tích các giai đoạn thực hiện quyền công tố, từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử.

2.1. Khái niệm và đặc điểm

Quyền công tố được hiểu là quyền của cơ quan nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với người phạm tội. Luận văn đưa ra ba quan điểm về phạm vi của quyền công tố, trong đó tác giả đồng tình với quan điểm thứ ba, cho rằng quyền công tố bắt đầu từ giai đoạn tiếp nhận và giải quyết tin báo về tội phạm.

2.2. Vai trò của quyền công tố

Quyền công tố đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo công lýbảo vệ quyền lợi của công dân. Luận văn nhấn mạnh rằng việc thực hiện đúng quyền công tố giúp tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm, và đảm bảo quy trình tố tụng hình sự được thực hiện nghiêm túc.

III. Thực Trạng Tại Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Cao Bằng

Luận văn đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về quyền công tố tại VKSND tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn 2015-2019. Nghiên cứu chỉ ra các hạn chế và nguyên nhân, bao gồm cả yếu tố chủ quan và khách quan, ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện quyền công tố.

3.1. Các yếu tố tác động

Các yếu tố tác động đến việc thực hiện quyền công tố bao gồm nguồn lực, trình độ cán bộ, và điều kiện kinh tế - xã hội tại địa phương. Luận văn chỉ ra rằng việc thiếu hụt nguồn lực và trình độ chuyên môn của cán bộ là những nguyên nhân chính dẫn đến hạn chế trong thực hiện pháp luật.

3.2. Đánh giá thực trạng

Thực trạng thực hiện quyền công tố tại VKSND tỉnh Cao Bằng được đánh giá qua các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử. Luận văn sử dụng các bảng số liệu thống kê để minh họa kết quả thực hiện, từ đó chỉ ra các mặt hạn chế và đề xuất giải pháp khắc phục.

IV. Giải Pháp và Khuyến Nghị

Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền công tố tại VKSND tỉnh Cao Bằng. Các giải pháp tập trung vào việc cải thiện nguồn lực, nâng cao trình độ cán bộ, và hoàn thiện quy trình tố tụng hình sự.

4.1. Quan điểm bảo đảm

Luận văn đưa ra các quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật, bao gồm việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật, đảm bảo quyền con người, và tăng cường sự giám sát của các cơ quan có thẩm quyền.

4.2. Giải pháp cụ thể

Các giải pháp cụ thể bao gồm đào tạo nâng cao trình độ cán bộ, tăng cường nguồn lực tài chính, và cải tiến quy trình tố tụng hình sự. Luận văn cũng đề xuất việc áp dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả quản lý và thực hiện quyền công tố.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố từ thực tiễn viện kiểm sát nhân dân tỉnh cao bằng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân. * Khái niệm Thực hành quyền công tố: Quyền công tố là quyền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội nhằm đưa người đó ra xét xử trước Tòa án và đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó. Khoản 1, Điều 107 Hiến pháp 2013 có quy định: "VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp" và Điều 2 Luật Tổ chức VKSND 2014 cũng quy định "VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước CHXHCN Việt Nam". Như vậy, Thực hành quyền công tố là một trong hai chức năng hiến định của VKSND.

Trong khoa học pháp lý hiện nay tồn tại nhiều quan niệm về quyền công tố. Theo nghĩa hẹp, quyền công tố bắt đầu sau khi Cơ quan điều tra (hoặc Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) kết thúc việc điều tra tội phạm, ban hành bản kết luận điều tra và chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án hình sự sang VKS đề nghị truy tố. Thực hiện quyền công tố chính là việc Viện kiểm sát thực hiện truy tố người phạm tội ra trước Tòa án bằng bản Cáo trạng. Quyền công tố kết thúc sau khi Tòa án ra bản án (quyết định) có hiệu lực pháp luật đối với người phạm tội [27].

Hiện nay có các quan điểm về phạm vi của quyền công tố như sau: Quan điểm 1: Quyền công tố được bắt đầu sớm hơn, ngay từ khi Cơ quan điều tra (hoặc Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra) tiến hành các hoạt động điều tra tội phạm và kết thúc sau khi Tòa án xét xử, ra 6 bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đối với người phạm tội. Như vậy thực hành quyền công tố được thực hiện trong cả giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử người thực hiện hành vi phạm tội [31]. Hiểu theo nghĩa này thì quyền công tố được bắt đầu từ sau khi khởi tố vụ án (nghĩa là từ giai đoạn CQĐT tiến hành các hoạt động điều tra thì quyền công tố đã xuất hiện). Quan điểm 2: Quyền công tố bắt đầu từ giai đoạn VKS thụ lý giải quyết vụ án (tức là khi CQĐT hoàn thành việc điều tra), chuyển hồ sơ và bản kết luận điều tra sang cho VKS để nghiên cứu xem xét ban hành quyết định truy tố.

Quan điểm 3: Quyền công tố bắt đầu từ khi tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm. Nghĩa là quyền công tố được bắt đầu sớm hơn, VKS thực hiện quyền này từ giai đoạn CQĐT tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác, lúc này CQĐT chưa khởi tố vụ án mà chỉ thực hiện các biện pháp xác minh để giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm để xác định có hành vi phạm tội xảy ra hay không, xác định người phạm tội. Quan điểm của tác giả: Tác giả đồng tình với quan điểm thứ ba, quan điểm này cũng đã được luật hóa, cụ thể theo quy định tại Điều 159 BLTTHS năm 2015 đã ghi nhận quyền công tố của Viện kiểm sát được bắt đầu từ giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố. Thời điểm này chưa khởi tố vụ án, khởi tố bị can mà chỉ là giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm.

Các hoạt động thực hành quyền công tố ở giai đoạn này bao gồm: Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân.Ở Việt Nam, quyền công tố được giao cho Cơ quan duy nhất là Viện kiểm sát nhân dân, đồng thời trong tố tụng hình sự Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất tham gia đầy đủ các giai đoạn tố tụng. Khi việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm được coi là "một giai đoạn" của tố tụng hình sự thì Viện kiểm sát thực hành quyền công tố sớm hơn chứ không phải bắt đầu từ khi điều tra vụ án. Việc Viện kiểm sát vào cuộc sớm hơn, bắt 7 đầu từ giai đoạn tiếp nhận giải quyết tin báo, tố giác tội phạm đã khẳng định được chức năng Thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát có ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại, xử lý nguồn tin về tội phạm. Thực hiện được tốt khâu công tác này là yếu tố quyết định đến việc khởi tố đúng người phạm tội, không làm oan người vô tội hay bỏ lọt tội phạm, hạn chế thấp nhất việc bắt giữ hình sự chuyển xử lý hành chính vì không chứng minh được hành vi phạm tội và ngược lại.

Như vậy, phạm vi của thực hành quyền công tố từ giai đoạn kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố được luật hóa và quy định cụ thể trong Bộ luật hình sự năm 2015. BLTTHS năm 2015 đã có các điều luật quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND, theo đó VKSND thực hành quyền công tố trong 4 giai đoạn tố tụng. Cụ thể: THQCT trong giai đoạn khởi tố quy định tại Điều 159 BLTTHS, THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án được quy định tại Điều 165 BLTTHS, THQCT trong giai đoạn truy tố quy định tại Điều 236; và THQCT trong giai đoạn xét xử quy định tại Điều 266. Qua đó, có thể xác định THQCT của VKSND bao gồm những nội dung sau: - Bắt đầu thực hành quyền công tố từ quá trình xác minh, điều tra đối với sự kiện phạm tội (căn cứ để tiến hành khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự); - Viện kiểm sát phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định KTBC của Cơ quan điều tra (hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) hoặc VKS trực tiếp ra quyết định KTBC đối với người thực hiện hành vi phạm tội; - Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra, khi xét thấy cần thiết, VKS trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra; trong trường hợp xét thấy hành vi của điều tra viên có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi ĐTV theo quy định của pháp luật.

- Viện kiểm sát quyết định việc áp dụng hay không áp dụng một số biện pháp hạn chế quyền, tự do của cá nhân người phạm tội (như phê chuẩn việc bắt, 8 gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thực hiện các biện pháp ngăn chặn khác); Nếu xét thấy các quyết định trên của CQĐT không có căn cứ và trái pháp luật thì có quyền hủy bỏ. - Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong các trường hợp cần thiết như kiểm tra chứng cứ, bổ sung tài liệu, Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung mà thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho CQĐT. - VKS ra quyết định truy tố, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, quyết định phục hồi vụ án. - Hoạt động hực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử gồm công bố cáo trạng và các quyết định khác về buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa.

(hoặc trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị trong xét xử phúc thẩm); Luận tội, xét hỏi, tranh luận và nêu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa; Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp oan sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội. Như vậy, nội dung quyền công tố là sự buộc tội; thực hành quyền công tố thực chất là hoạt động của Viện KSND để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội. Quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực TTHS, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Nếu mục tiêu của hoạt động kiểm sát là bảo đảm cho pháp luật được thực hiện, được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất thì mục tiêu của công tố là tập trung vào việc phát hiện, điều tra, truy tố, buộc tội một cách chính xác, nhanh chóng, kịp thời, không để xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm.

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Quyền công tố là quyền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc truy cứu TNHS đối với cá nhân, tổ chức phạm tội nhằm đưa cá nhân, tổ chức đó ra xét xử trước Tòa án và đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó. Thực hành quyền công đó là việc thực hiện các hành vi tố tụng cần 9 thiết theo quy định của pháp luật TTHS để truy cứu TNHS cá nhân, tổ chức phạm tội, đưa cá nhân, tổ chức phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó. * Khái niệm thực hiện pháp luật: Thực hiện pháp luật nghĩa là việc một chủ thể làm đúng những quy định của pháp luật; là quá trình chuyển các quy định của pháp luật vào thực tiễn cuộc sống xã hội, là hoạt động nhằm mục đích làm cho các quy phạm pháp luật được thực hiện trong thực tế. Theo giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật- Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội: "thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật".

[30] Các hình thức thực hiện pháp luật gồm có tuân thủ pháp luật; thi hành pháp luật; sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật. Tuân thủ pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm. Ở hình thức thực hiện này đòi hỏi chủ thể thực hiện nghĩa vụ một cách thụ động, thực hiện các quy phạm pháp luật dưới dạng không hành động. Thi hành pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Thực Hiện Pháp Luật Về Quyền Công Tố Tại Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Cao Bằng là một nghiên cứu chuyên sâu về việc áp dụng pháp luật liên quan đến quyền công tố tại Viện Kiểm Sát Nhân Dân tỉnh Cao Bằng. Tài liệu này phân tích thực trạng, những khó khăn và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong lĩnh vực này. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, sinh viên luật và cán bộ thực thi pháp luật, giúp họ hiểu rõ hơn về cơ chế và thách thức trong việc thực hiện quyền công tố tại địa phương.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học thực hiện pháp luật về khiếu nại từ thực tiễn huyện chương mỹ thành phố hà nội, nghiên cứu về thực tiễn khiếu nại tại địa phương. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học thực hiện pháp luật về đăng ký hộ tịch tại thị xã sơn tây thành phố hà nội cung cấp góc nhìn chi tiết về việc áp dụng pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn thành phố hà nội là tài liệu hữu ích để hiểu sâu hơn về công tác kiểm tra văn bản pháp luật. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá thêm các khía cạnh khác nhau của pháp luật thực tiễn.