Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 1. Các công trình nghiên cứu chủ yếu Mục tiêu quan trọng nhất của thu NSNN theo hướng bền vững là phát triển bền vững. Đồng thời, thu NSNN bền vững là điều kiện để phát triển bền vững. Do đó, nghiên cứu thu NSNN theo hướng bền vững cần được đặt trong khung khổ phát triển bền vững.
Các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững Trước đây, các nước công nghiệp phát triển tập trung chủ yếu vào hoạt động sản xuất. Cách làm này cũng được nhiều nước đang phát triển áp dụng trong những năm 50 - 60 của thế kỷ XX. Họ rất coi trọng mục tiêu gia tăng sản lượng và tăng trưởng thông qua chỉ tiêu đánh giá về GNP và GDP. Nhìn chung trong thời kỳ này, các nước thường lấy tiêu chuẩn về tốc độ tăng trưởng, hiệu quả kinh tế, mức tăng thu nhập.
làm thước đo trình độ phát triển của nền kinh tế. Cho đến đầu những năm 70 của thế kỷ vừa qua, nạn nghèo đói gia tăng ở các nước đang phát triển đã khiến những người nghiên cứu về phát triển tập trung mọi nỗ lực vào vấn đề cải thiện phân phối thu nhập. Quan niệm về phát triển lúc đó được chuyển hướng sang tăng trưởng gắn với bảo đảm bình đẳng xã hội và đặc biệt là vấn đề giảm đói nghèo. Chỉ tiêu này được đánh giá là một tiêu chuẩn quan trọng ngang bằng với tiêu chuẩn về hiệu quả kinh tế.
Nhưng vào đầu những năm 1980, khi sự xuống cấp nhanh chóng của môi trường đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống; trở thành 5 những thách thức thật sự đối với phát triển dài hạn thì vấn đề bảo vệ môi trường đã trở thành mục tiêu thứ ba của sự phát triển. Cũng khoảng thời gian này, thuật ngữ “phát triển bền vững” bắt đầu xuất hiện. Từ đó tới nay, đã có nhiều định nghĩa và khái niệm về phát triển bền vững được nêu ra qua các hội nghị và hội thảo quốc tế. Khái niệm phát triển bền vững do Liên minh quốc tế bảo tồn thiên nhiên (UICN) đưa ra vào đầu thập niên tám mươi của thế kỷ XX được nhiều tổ chức quốc tế sử dụng và tiếp tục nghiên cứu nhằm bổ sung và hoàn thiện.
Năm 1987, Ngân hàng Thế giới (WB) định nghĩa phát triển bền vững là: “Sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Định nghĩa đơn giản này là điểm khởi đầu quan trọng cho những nghiên cứu tiếp theo, ngày càng sâu sắc hơn. Các nhu cầu được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai đòi hỏi phải chuyển giao các nguồn lực sẵn có từ thế hệ này sang thế hệ khác: các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các nguồn vốn, các năng lực của con người… Đến Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững ở Johannesbug (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002, khái niệm phát triển bền vững được làm rõ hơn, theo đó, phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường.
Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộn nhưng vấn đề này đã được các nhà khoa học rất quan tâm. Kế thừa các kết quả nghiên cứu của thế giới, các nhà khoa học Việt Nam đã bàn sâu hơn và gắn với điều kiện cụ thể của Việt Nam. - “Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp” (1997), công 6 trình khoa học của Phạm Xuân Nam. Trong công trình này, trước khi bàn đến đổi mới chính sách, tác giả đã bàn đến vấn đề rất quan trọng ảnh hưởng đến chính sách là phát triển bền vững.
Trên cơ sở khái niệm của thế giới, tác giả cho rằng có 5 hệ chỉ báo, tức là 5 nội hàm phát triển bền vững: Phát triển xã hội; phát triển kinh tế; bảo vệ môi trường; phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ, văn hoá, vai trò phụ nữ và chỉ báo quốc tế. - “Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững” (2000) do Lưu Đức Hải và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho phát triển bền vững. Công trình này đã xác định phát triển bền vững qua các tiêu chí: bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững văn hoá đã tổng quan nhiều mô hình phát triển bền vững như mô hình 3 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và Sadler (1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội của WCED (1987), mô hình liên hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái của Villen (1990), mô hình 3 nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của World Bank. - “Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam” đã đưa ra nhiều vấn đề cần ưu tiên để thực hiện phát triển bền vững, trong đó 5 lĩnh vực cần được ưu tiên để phát triển bền vững về kinh tế, đó là: duy trì tăng trưởng nhanh và bền vững; thay đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường; thực hiện quá trình công nghiệp hóa sạch; phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững; phát triển bền vững các vùng và địa phương.
- “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I” (2003) do Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành. Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí phát triển bền vững của Brundtland và kinh nghiệm các 7 nước: Trung Quốc, Anh, Mỹ, các tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể về phát triển bền vững đối với một quốc gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường. Đồng thời cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí phát triển bền vững cho Việt Nam. - “Phát triển bền vững từ quan niệm đến hành động” (2006) là đề tài khoa học cấp Bộ do PGS.
Hà Huy Thành làm chủ nhiệm, Viện nghiên cứu Môi trường và phát triển bền vững là cơ quan chủ trì thực hiện. Đề tài đã nghiên cứu tổng quan nội dung cơ bản và quá trình hình thành và phát triển của khái niệm, khung khổ, chương trình hành động, chỉ tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc và các quốc gia, khu vực trên thế giới. Trên cơ sở đó, rút ra những bài học về phát triển bền vững phù hợp với điều kiện của Việt Nam. - “Bàn thêm về phát triển bền vững” đăng trên Tạp chí nghiên cứu phát triển bền vững số tháng 6/2006 của Bùi Tất Thắng, Viện chiến lược - Bộ Kế hoạch và đầu tư.
Bài báo đã phân tích phát triển bền vững về mặt kinh tế để thực hiện phát triển bền vững là tốc độ tăng trưởng phải cao và quan trọng là có sự thay đổi cơ cấu kinh tế, cùng với việc nâng cao đời sống của dân chúng và bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên thiên nhiên… - “Phát triển bền vững của Việt Nam: Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng”, NXB Lao động - xã hội, Hà Nội - 2007, GS. Nguyễn Quang Thái và PGS. Ngô Thắng Lợi đã nghiên cứu, phân tích thực trạng phát triển của kinh tế xã hội của Việt Nam trong thời gian đổi mới, phân tích những yếu tố hay điều kiện để có thể giúp Việt Nam đạt được những tiến bộ khả quan để thực hiện phát triển bền vững, trong đó có đề cập đến những nội dung của vấn đề tăng trưởng với chất lượng cao thể hiện ở những tiêu chí như xác định cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ. Mặc 8 dù, chưa đề cập trực tiếp đến khái niệm phát triển kinh tế bền vững nhưng cũng đã đưa ra những tiêu chí và nội dung của phát triển kinh tế bền vững.
- Một số bài báo khác cũng đã bàn đến phát triển bền vững, với tư cách là mục tiêu của tăng trưởng kinh tế ở nước ta. Chẳng hạn, “Kinh tế - xã hội Việt Nam hướng tới chất lượng tăng trưởng hội nhập phát triển bền vững” của Nguyễn Mạnh Hùng; “Tăng trưởng kinh tế Việt Nam - những rào cản cần vượt qua” của Nguyễn Văn Thương; “Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam” của Phạm Ngọc Trung… Các bài báo này đã nghiên cứu và bàn luận đến những vấn đề xoay quanh việc sử dụng các nhân tố được chú ý và cần phải tiếp tục sử dụng một cách có hiệu quả để nhằm tạo ra sự tăng trưởng của kinh tế Việt Nam. Các vấn đề đã được các tác giả trên nghiên cứu là những khía cạnh khía cạnh khác nhau và một số tiêu chí liên quan đến phát triển bền vững gắn với điều kiện Việt Nam. Các công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn thu của NSNN - Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật thuế TNDN của tác giả Phan Thị Thanh Dương - Khoa Luật Thương Mại, trường Đại học Luật TP.
Hồ Chí Minh (Đăng tải trên website http://www. Trong đề tài, tác giả đã tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản của Luật thuế TNDN, đi sâu, làm rõ chi tiết từng nội dung mà Luật chưa đề cập đến, đề ra những giải pháp hoàn thiện cho phù hợp với thực tế đòi hỏi. - Hoàn thiện luật thuế TNDN nhóm tác giả đăng tải trên website http://tanphu. Bài viết đã phân tích được những ưu nhược điểm của Thuế TNDN, đề ra các giải pháp hoàn thiện về mặt thuế suất, chi phí được trừ, ưu đãi thuế, vấn đề chống chuyển giá.
- Luận văn thạc sỹ kinh doanh và quản lý: “Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ở nước ta hiện nay” của Vũ Thị Mai (Học viện Chính 9 trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005), nghiên cứu thực trạng quản lý thu thuế ở Việt Nam, chỉ ra những kết quả đã đạt được, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình đổi mới từ 1990 đến nay. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế ở Việt Nam từ năm 2010. - Đề tài nghiên cứu Khoa học cấp Bộ “Chiến lược cải cách hệ thống chính sách thuế, phí giai đoạn 2011 - 2020” của TS.