Chương 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Một số khái niệm Để phục vụ cho việc nghiên cứu về nội dung của đề tài nghiên cứu, trước hết luận văn đi sâu tìm hiểu một số khái niệm liên quan đến đề tài như sinh kế, hoạt động mưu sinh, biến đổi và biến đổi sinh kế và phát triển bền vững. Khái niệm sinh kế Do sinh kế là hoạt động quan trọng trong đời sống con người và xã hội loài người nên khái niệm này rất được chú trọng và xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau. Chẳng hạn, học giả Robert H.
Lavenda đưa ra khái niệm rằng “Khi nói đến sinh kế là hàm ý con người phải làm gì để có được của cải vật chất như lương thực, quần áo, chỗ ở nhằm duy trì cuộc sống”. Đây là khái niệm được sử dụng nhiều hơn cả. Theo DFID (Bộ phát triển quốc tế Anh) thì “sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực (gồm các nguồn lực vật chất và xã hội) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người”. Theo từ điển Tiếng Anh Oxford năm 1971, sinh kế là “phương tiện sinh sống, duy trì, nuôi dưỡng, đặc biệt kiếm được, có được, tạo được, tìm kiếm được một sinh kế” (Sorensen và Olwig, 2002, tr.
Theo Từ điển tiếng Việt “Sinh kế là việc làm để kiếm ăn, để mưu sống” việc làm, kế sinh nhai, cách kiếm sống (Từ điển tiếng Việt, Nxb VHTT,1999). Trong nghiên cứu này, sinh kế được hiểu là hoạt động tất yếu của con người để tồn tại, thể hiện qua cách thức mà con người tác động vào tự nhiên, môi trường để tạo ra của cải vật chất nhằm đảm bảo cuộc sống của mình. Sinh kế cũng là một trong những thành tố quan trọng của văn hóa tộc người, có mối quan hệ hữu cơ với văn hóa đảm bảo đời sống (văn hóa vật chất), văn hóa xã hội (cấu trúc, thiết chế, các quan hệ xã hội) và văn hóa nhận thức (tri thức, tín ngưỡng, tôn 13 giáo, ngôn ngữ…). Mặt khác, sinh kế còn có quan hệ mật thiết với các yếu tố môi sinh (tự nhiên và xã hội), có giao lưu, tiếp nhận và trao đổi với các cộng đồng khác.
Hay nói cách khác, phương thức sinh kế sẽ chịu ảnh hưởng của yếu tố sinh thái, văn hóa, tâm lý và xã hội của nhóm người hay các cộng đồng người. Chính điều đó làm cho văn hóa cũng như sinh kế tộc người luôn có những thích ứng để sinh tồn và phát triển. - Phương thức mưu sinh: Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Phương thức có nghĩa là phương pháp, cách thức; mưu sinh là làm ăn, làm việc để sống. Như vậy phương thức mưu sinh là cách thức làm ăn, làm việc để sinh sống của con người.
- Biến đổi sinh kế: Là thuật ngữ mới xuất hiện gần đây trong các nghiên cứu về sinh kế, trong các công trình nghiên cứu của Champer, Ashley và D. Carney đã đưa ra các chỉ số và khung phân tích về biến đổi khung sinh kế như sau: Biến đổi về cơ cấu thu nhập; Biến đổi về phân công lao động; và trong nghiên cứu về sinh kế nông thôn, còn có thêm một chỉ số nữa: Quá trình chuyển đổi sinh kế từ nông nghiệp thuần túy sang nông nghiệp kết hợp với phi nông nghiệp (dịch vụ, làm thuê, công chức…) Biến đổi là quy luật tất yếu trong hoạt động sinh kế của con người. Trong quá trình đổi mới và hội nhập của đất nước, dưới tác động của nhiều yếu tố như các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước, sự biến đổi của sinh kế của các tộc người ngày càng trở nên sâu sắc và rộng khắp. Chính vì thế trong khuôn khổ của luận văn, ngoài đề cập đến những hoạt động mưu sinh của người Xơ Đăng trước kia như thế nào, chúng tôi luôn xem xét đến sự biến đổi đó trong bối cảnh cụ thể.
- Sinh kế bền vững: Tác giả Chambers và Conway cho rằng sinh kế bền vững khi nó được phát huy hết tiềm năng của con người để từ đó sản xuất ra của cải vật chất và duy trì phương tiện kiếm sống ổn định cuộc sống của họ. Sinh kế bền vững phải có khả năng đương đầu và vượt qua các áp lực cũng như sự thay đổi bất ngờ. Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc các sinh kế khác. Cơ sở lý thuyết - Lý thuyết về sinh thái văn hóa Lý thuyết sinh thái văn hóa xuất hiện vào thập niên 50 của thế kỷ trước, thuật ngữ do một số nhà nhân học người Mỹ khởi xướng như: M.
Beits, Andrew Vayda, Royppaport,… Lý thuyết này nhằm giải thích mối quan hệ và ảnh hưởng qua lại giữa môi trường tự nhiên và văn hóa. Mỗi văn hóa hình thành tồn tại đều là sự thích nghi với môi trường sinh sống, bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Hiểu văn hóa theo nghĩa rộng gồm cả sinh kế, có thể quan niệm có mối chặt chẽ giữa môi trường tự nhiên với sinh kế, trong đó, môi trường quy định sinh kế, môi trường tự nhiên nào sẽ tạo ra sinh kế đó. Ngày nay, trong các xã hội tiền công nghiệp, sinh thái quy định sinh kế… Sinh kế là văn hóa nên các sinh kế được hiểu bình đẳng với nhau, được tôn trọng như nhau, không có sinh kế lạc hậu, sinh kế văn minh.
- Lý thuyết về biến đổi văn hóa Lý thuyết biến đổi văn hóa xuất hiện vào thập niên 50 của thế kỷ XX, do nhà dân tộc học người Mĩ J. Stewward khởi xướng, qua công trình “Lý thuyết về biến đổi văn hóa, phương pháp luận về tiến hóa đa hệ”, xuất bản năm 1955. Tác giả luận văn vận dụng lý thuyết về biến đổi văn hóa nhằm giải thích nguyên nhân và thực trạng biến đổi văn hóa sinh kế nơi đây. Bởi văn hóa không biến đổi tự phát và hỗn loạn, trái lại, văn hóa luôn biến đổi tự giác và có chọn lọc, theo hướng văn hóa nội tại giữ lại yếu tố tích cực, hợp thời, phản ánh bản sắc tộc người, đào thải yếu tố lỗi thời, lạc hậu, tiếp thu và bản địa hóa yếu tố nhân văn, phù hợp; chối bỏ yếu tố tiêu cực, xa lạ.
Quy luật biến đổi văn hóa này là cơ sở cho định hướng phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998). Khái quát địa bàn nghiên cứu 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Kon Đào là một xã thuộc khu vực II của huyện, cách trung tâm thị trấn Đắk Tô khoảng 7km về phía bắc. Xã Kon Đào có diện tích khoảng 33,61 km², dân số năm 2017 là 3897 người, mật độ dân số đạt 116 người/km².
Địa phận xã Kon Đào trải dài từ 14o 43’ 0” vĩ độ Bắc và từ 107o 50’ 20” độ kinh Đông. Phía bắc giáp xã Đắk Trăm và xã Văn Lem, phía nam giáp xã Tân Cảnh và Thị trấn Đắk Tô, phía đông giáp xã Văn Lem, phía tây giáp xã Ngọc Tụ và xã Đắk Trăm. Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên xã Kon Đào là 3361,01 ha. Trong đó, đến năm 2017, đất sản xuất nông nghiệp là: 2166,15 ha chiếm 64,45%; đất lâm nghiệp là: 530,69 ha chiếm 15,79%; đất nuôi trồng thủy sản là: 7,87 ha chiếm 0,23%; đất chuyên dùng là 469,74 ha chiếm 13,98%; đất ở là: 64,84 ha chiếm 193%.
Đất đai, địa hình trên địa bàn xã cơ bản thích nghi với nhiều loại cây trồng vùng nhiệt đới, á nhiệt đới như: cây cà phê, cây cao su, cây bời lời, cây mì,… Tài nguyên nước: Tài nguyên mặt nước được phân bố chủ yếu trên 3 lưu vực của các sông chính: Đắk Tờ Kan, Pô Kô, Đắk Pờ Xi. Lượng mưa bình quân từ 2.600 mm/năm nên nguồn nước mặt rất lớn. Các con sông này là nguồn cung cấp nước chính cho sinh hoạt và sản xuất, có nhiều tiềm năng để xây dựng và phát triển các công trình thủy điện, thủy lợi, cấp nước. Tài nguyên khoáng sản: huyện Đắk Tô có nguồn khoáng sản đá, cát, sỏi xây dựng, đất sét,… Ở Kon Đào có suối nước khoáng Đắk Rơ Nga.
Về du lịch: huyện Đắk Tô có tiềm năng du lịch đa dạng về sinh thái và cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn như: Rừng thông thị trấn Đắk Tô, suối nước nóng Kon Đào, thác Đắk Lung. Kết hợp du lịch gắn với tham quan di tích lịch sử Chiến thắng Đắk Tô và các lễ hội dân tộc của Bắc Tây Nguyên. Dân cư và thành phần dân tộc nghiên cứu Theo Báo cáo của Ban Dân tộc tỉnh Kon Tum năm 2017, dân số toàn huyện Đắk Tô có 44.586 người, mật độ dân số là 90 người/km2. Trong đó, tỉ lệ các thành phần dân tộc của huyện được thể hiện như sau: Bảng 1.
Các dân tộc của huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum năm 2017 STT Thành phần dân tộc Hộ Khẩu (Người) 1 Kinh 5.040 2 Gia-rai 2 5 3 Ba-na 1.112 5 Gié - Triêng 51 158 6 Tày 151 518 7 Nùng 97 428 8 Thái 137 541 9 Mường 73 245 10 Thổ 10 41 11 Sán Dìu 3 8 12 Sán Chay 1 3 13 Mnông 2 12 14 Dao 4 6 15 Hoa 8 30 16 Khơ Me 5 22 17 Cor 1 1 18 Hrê 533 2.684 19 Ra Glai 1 2 20 Co-ho 2 4 21 Ê-đê 1 3 22 Tà-ôi 0 1 Tổng cộng 10. Số liệu bảng trên cho thấy, người Kinh có số lượng đống nhất, chiếm 42,703%, thứ hai là người Xơ Đăng chiếm 36,13%, thứ ba là người Ba Na với 10,59%, tộc người Hrê là 6,01%, tộc người Thái 1,21%. Trong đó, dân tộc Kinh 17 sống tập trung tại trung tâm các phố, chợ, thị trấn của huyện làm nghề buôn bán kinh doanh. Tộc người Xơ Đăng sống tập trung ở các xã, thôn; đồng bào có tập quán canh tác lúa rẫy, lúa nước, trồng mì, cây bời lời,.
Có số dân đông, huyện Đắk Tô có nguồn lao động khá lớn.356 người trong độ tuổi lao động, trong đó 50% lực lượng trẻ, 87% lao động nông nghiệp; 6% lao động công nghiệp – xây dựng; 5% lao động trong lĩnh vực dịch vụ - thương mại; lao động nữ chiếm 48%. Tuy nhiên, số lao động được đào tạo chỉ đạt khoảng 12%, chủ yếu dưới hình thức đào tạo bồi dưỡng qua các lớp ngắn ngày nên tay nghề thấp, tập trung vào một số nghề như: nông nghiệp, trồng cây công nghiệp,. Người Xơ Đăng ở xã Kon Đào Bảng 1.2: Người Xơ Đăng ở xã Kon Đào, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum năm 2018 TT Tổng Dân tộc Xơ-đăng Các thôn trong xã 350 1.