Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Tây Nguyên luôn giữ vị trí chiến lược về kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng, trong đó các cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ đóng vai trò chủ thể trong việc gìn giữ và phát triển không gian sinh tồn bản địa. Tại huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum, với tổng dân số 44.586 người và mật độ 90 người/km², người Xơ Đăng là cộng đồng dân tộc thiểu số đông nhất, chiếm 36,13% cơ cấu dân cư toàn huyện. Xã Kon Đào nằm cách trung tâm thị trấn Đắk Tô khoảng 7 km về phía Bắc, có tổng diện tích tự nhiên 3.361,01 ha (33,61 km²) với quy mô dân số 3.897 người vào năm 2017 và mật độ đạt 116 người/km².

Trong bối cảnh đất sản xuất nông nghiệp chiếm tới 2.166,15 ha (tương đương 64,45% diện tích tự nhiên) và đất lâm nghiệp chiếm 530,69 ha (15,79%), vấn đề tổ chức sinh kế bền vững cho đồng bào Xơ Đăng trở thành nhiệm vụ trọng tâm gắn liền với các chỉ tiêu xóa đói giảm nghèo của địa phương. Nghiên cứu tập trung giải quyết câu hỏi: Phương thức mưu sinh của người Xơ Đăng đã biến chuyển như thế nào từ mốc công cuộc Đổi mới năm 1986 đến nay, và những nhân tố nào đang thúc đẩy sự thay đổi đó?

Mục tiêu trọng tâm của đề tài là làm rõ bức tranh toàn diện về các hoạt động sinh kế truyền thống và hiện đại của người Xơ Đăng tại xã Kon Đào qua 3 thôn khảo sát nòng cốt: Thôn Kon Đào 1 (109 hộ với 730 khẩu người Xơ Đăng), Thôn Kon Đào 2 (81 hộ với 521 khẩu) và Thôn Đắk Lung (82 hộ với 472 khẩu). Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học giúp nâng cao hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới và hỗ trợ phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết Nhân học và Dân tộc học hiện đại để luận giải các chiều kích sinh kế tộc người:

  • Lý thuyết Sinh thái văn hóa (Cultural Ecology): Khởi xướng bởi Julian Steward cùng các học giả như Roy Rappaport và Andrew Vayda từ thập niên 1950. Lý thuyết khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa môi trường tự nhiên và văn hóa tộc người, trong đó phương thức sinh kế là hình thức thích nghi đặc thù của con người với hệ sinh thái địa phương nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển.
  • Lý thuyết Biến đổi văn hóa (Cultural Change Theory): Do Julian Steward đề xuất năm 1955 thông qua công trình nghiên cứu về phương pháp luận tiến hóa đa tuyến. Lý thuyết làm rõ việc văn hóa sinh kế biến đổi có chọn lọc dưới các tác động kinh tế - xã hội, đào thải các yếu tố không còn phù hợp và tiếp thu các giá trị tiến bộ, phù hợp với định hướng xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998.

Các khái niệm chính được chuẩn hóa trong luận văn bao gồm:

  • Sinh kế (Livelihood): Tiếp cận theo khung phân tích của DFID (Bộ Phát triển Quốc tế Anh) và Robert H. Lavenda, sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản (vật chất và xã hội) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người.
  • Phương thức mưu sinh: Tổng hòa các cách thức, kinh nghiệm và hành vi lao động sản xuất nhằm duy trì đời sống vật chất và tinh thần.
  • Biến đổi sinh kế: Sự chuyển dịch cấu trúc thu nhập, phân công lao động và chuyển đổi từ nông nghiệp thuần túy sang kết hợp phi nông nghiệp theo khung phân tích của Robert Chambers, Conway, Ashley và Carney.
  • Sinh kế bền vững: Năng lực duy trì và nâng cao tư liệu sản xuất mà không làm suy thoái nền tảng tài nguyên thiên nhiên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đa dạng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng của ngành Dân tộc học:

  • Cỡ mẫu và địa bàn khảo sát: Khảo sát trực tiếp trên tổng thể 272 hộ gia đình người Xơ Đăng cư trú tại 3 thôn (Kon Đào 1, Kon Đào 2, Đắk Lung).
  • Phương pháp chọn mẫu: Lựa chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) kết hợp phân tầng theo nhóm tuổi, giới tính và điều kiện kinh tế. Tác giả thực hiện 35 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân đối với các già làng, trưởng thôn, cán bộ khuyến nông và chủ hộ sản xuất; tổ chức 6 cuộc thảo luận nhóm tập trung (FGD).
  • Lý do lựa chọn phương pháp: Điền dã dân tộc học (quan sát trực tiếp, quan sát tham dự) là phương pháp tối ưu giúp nhà nghiên cứu thâm nhập thực tế đời sống, cùng sinh hoạt với đồng bào để thu thập các tri thức bản địa, kinh nghiệm sản xuất nương rẫy và kỹ thuật thủ công truyền thống vốn không thể ghi nhận đầy đủ qua các bảng hỏi đóng.
  • Timeline nghiên cứu: Quá trình điền dã thực địa được tiến hành liên tục từ tháng 5 đến tháng 11 năm 2018, kết hợp phân tích các nguồn dữ liệu thứ cấp từ UBND huyện Đắk Tô và Ban Dân tộc tỉnh Kon Tum giai đoạn 1986 - 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực địa tại xã Kon Đào đã ghi nhận những bước chuyển dịch sâu sắc trong đời sống kinh tế của người Xơ Đăng:

  • Sự chuyển dịch mạnh mẽ trong cơ cấu cây trồng: Từ chỗ canh tác nương rẫy tự cấp tự túc với chu kỳ luân canh bỏ hóa kéo dài 8 đến 10 năm trước đây, diện tích canh tác rẫy truyền thống đã bị thu hẹp đáng kể. Thay vào đó, diện tích đất nông nghiệp 2.166,15 ha được tập trung phát triển các loại cây công nghiệp và cây hàng hóa như cao su, cà phê, bời lời và cây sắn (mì). Chu kỳ bỏ hóa đất giảm xuống chỉ còn khoảng 2 đến 3 năm do sức ép gia tăng dân số và quy hoạch đất lâm nghiệp.
  • Biến đổi phương thức canh tác ruộng nước và chăn nuôi: Hình thức ruộng nước trâu quần cổ truyền (diếc đác klaang) vốn dựa hoàn toàn vào nước trời và sức trâu dẫm đất nhuyễn đã giảm mạnh, nhường chỗ cho kỹ thuật ruộng nước cày bừa, đắp đập ngăn suối làm thủy lợi nhỏ. Cơ cấu đàn vật nuôi có sự dịch chuyển: Đàn trâu từng là biểu tượng giàu có và vật hiến sinh nay giảm số lượng lớn, chuyển trọng tâm sang nuôi bò lấy sức kéo và nuôi heo, gia cầm thương phẩm. Trong toàn huyện, 87% lao động vẫn hoạt động trong khu vực nông nghiệp.
  • Sự suy thoái của nghề thủ công và hoạt động khai thác tự nhiên: Nghề dệt thổ cẩm truyền thống với khổ vải đặc thù từ 90 đến 120 cm của nhóm Hà Lăng và nghề rèn luyện quặng sa khoáng độc đáo của nhóm Tơ Đrá (nung đe đá granite 4 đến 5 ngày đêm) bị mai một nghiêm trọng. Hơn 90% hộ gia đình hiện nay chuyển sang mua trang phục may sẵn và công cụ kim khí bán trên thị trường. Hoạt động săn bắt và đánh bắt cá trên sông Pô Kô, Đắk Pờ Xi giảm mạnh do nguồn lợi tự nhiên suy thoái và các quy định bảo vệ rừng nghiêm ngặt.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của sự biến đổi sinh kế bắt nguồn từ các chính sách Đổi mới kinh tế từ năm 1986, chương trình định canh định cư, giao đất giao rừng và sự phát triển của hệ thống hạ tầng giao thông kết nối xã với trung tâm huyện qua tuyến đường dài 7 km. Kinh tế thị trường đã đưa đồng tiền và hàng hóa thâm nhập sâu vào đời sống buôn làng, kích thích nhu cầu tiêu dùng và chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh sự phân hóa rõ rệt trong cơ cấu sử dụng đất và lao động, có thể trực quan hóa qua biểu đồ hình quạt tròn về hiện trạng sử dụng 3.361,01 ha đất tự nhiên (đất nông nghiệp chiếm ưu thế tuyệt đối 64,45%, đất lâm nghiệp 15,79%, đất chuyên dùng 13,98% và đất ở 1,93%). Đồng thời, bảng số liệu phân công lao động theo chu kỳ nông lịch 12 tháng chỉ ra rằng lao động nữ vẫn gánh vác phần lớn các khâu gieo trỉa (tháng 4 - tháng 5) và thu hoạch lúa (tháng 9 - tháng 10).

Điểm nghẽn lớn nhất trong sinh kế hiện nay của xã Kon Đào là chất lượng nguồn nhân lực: Trong số 23.356 người trong độ tuổi lao động của huyện Đắk Tô, tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn chỉ đạt khoảng 12%. Điều này lý giải vì sao người Xơ Đăng tại 3 thôn khảo sát gặp nhiều khó khăn khi chuyển dịch sang các ngành công nghiệp - xây dựng (chỉ chiếm 6%) và thương mại - dịch vụ (chỉ chiếm 5%), khiến thu nhập dễ bị tổn thương trước các biến động giá nông sản trên thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm xây dựng khung sinh kế bền vững cho người Xơ Đăng tại xã Kon Đào, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đào tạo nghề nông thôn: Tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật canh tác lúa nước 2 vụ, kỹ thuật chăm sóc cây cà phê, cao su và cao su tiểu điền cho đồng bào. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 12% hiện nay lên 30% vào năm 2025. Chủ thể thực hiện: Trung tâm Khuyến nông huyện Đắk Tô phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện.
  2. Tái cơ cấu cây trồng và liên kết chuỗi giá trị nông sản: Tối ưu hóa 2.166,15 ha đất nông nghiệp hiện có, chuyển đổi các diện tích sắn bạc màu sang trồng xen canh cây ăn quả, bời lời và dược liệu bản địa. Thiết lập các hợp tác xã nông nghiệp nhằm đảm bảo đầu ra ổn định, mục tiêu tăng giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích thêm 20% đến 25% trong giai đoạn 2020 - 2025. Chủ thể thực hiện: UBND xã Kon Đào phối hợp với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện.
  3. Khôi phục nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng: Bảo tồn kỹ thuật dệt thổ cẩm và đan lát tại 3 thôn Kon Đào 1, Kon Đào 2 và Đắk Lung, kết nối chuỗi du lịch sinh thái - lịch sử tại suối nước khoáng Đắk Rơ Nga, thác Đắk Lung và di tích Chiến thắng Đắk Tô. Phấn đấu tạo việc làm phụ cho khoảng 15% đến 20% lao động nữ nhàn rỗi trong mùa khô đến năm 2024. Chủ thể thực hiện: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Kon Tum phối hợp với UBND huyện Đắk Tô.
  4. Mở rộng chính sách tín dụng ưu đãi và hỗ trợ vốn sản xuất: Cung cấp các gói vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội cho 100% hộ nghèo và cận nghèo người Xơ Đăng có nhu cầu tái đầu tư tư liệu sản xuất và cải tạo chuồng trại chăn nuôi gia súc có kiểm soát dịch bệnh giai đoạn 2021 - 2025. Chủ thể thực hiện: Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh Đắk Tô phối hợp với Ban Dân tộc tỉnh Kon Tum.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan hoạch định chính sách: Ban Dân tộc tỉnh Kon Tum, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thể sử dụng các số liệu thực chứng để đánh giá tác động của các chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và chương trình xây dựng Nông thôn mới.
  • Chính quyền cơ sở huyện Đắk Tô và xã Kon Đào: Các nhà quản lý địa phương sử dụng kết quả nghiên cứu làm căn cứ xây dựng kế hoạch chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phân bổ nguồn lực lao động và triển khai các mô hình khuyến nông phù hợp với tập quán canh tác của người Xơ Đăng.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành: Các nhà nghiên cứu thuộc ngành Dân tộc học, Nhân học, Xã hội học nông thôn và Phát triển bền vững có thêm tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu điền dã thực địa và khung lý thuyết sinh thái văn hóa ứng dụng tại Tây Nguyên.
  • Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và dự án phát triển: Các chuyên gia thiết kế dự án giảm nghèo, bảo tồn tri thức bản địa và phát triển sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu có thể ứng dụng các bài học kinh nghiệm từ mô hình chuyển dịch sinh kế tại xã Kon Đào.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao luận văn lựa chọn mốc thời gian từ năm 1986 đến nay để nghiên cứu biến đổi sinh kế? Mốc Đại hội Đảng VI năm 1986 đánh dấu bước ngoặt lịch sử mở ra công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước. Chính sách khoán hộ, tự do lưu thông hàng hóa và giao đất lâm nghiệp đã phá vỡ thế khép kín tự cấp của kinh tế nương rẫy, tạo tiền đề thúc đẩy sự biến chuyển từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa tại xã Kon Đào.

Phương thức canh tác ruộng nước trâu quần của người Xơ Đăng có đặc trưng gì? Ruộng trâu quần (diếc đác klaang) được canh tác ở các vùng sình lầy trũng nước trong mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10. Đồng bào không dùng cày bừa mà lùa cả đàn trâu giẫm đạp sục bùn cho đất nhuyễn mịn trong 1 ngày, sau đó gieo thẳng hạt lúa giống không ủ mạ, không bón phân hóa học và chỉ thu hoạch 1 vụ duy nhất.

Kỹ thuật rèn quặng cổ truyền của nhóm người Xơ Đăng Tơ Đrá độc đáo như thế nào? Người Tơ Đrá sử dụng quặng sắt lộ thiên nấu chảy với cát đen suối trong lò bễ hơi bằng da lắp trên cối gỗ me. Điểm đặc sắc nhất là kỹ thuật chế tác đe đá granite (hmau lang) được nung lửa liên tục từ 4 đến 5 ngày đêm để lấy lõi đá cứng, kết hợp kỹ thuật tôi thép trong máng nước nóng và ống lồ ô.

Cơ cấu cây trồng thương phẩm hiện nay tại xã Kon Đào gồm những loại nào? Bên cạnh diện tích lúa nước và lúa rẫy đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ, người Xơ Đăng tại xã Kon Đào tập trung mở rộng canh tác các loại cây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày có giá trị thương phẩm cao như cây cao su, cây cà phê, cây bời lời lấy vỏ và cây sắn (mì) cung cấp cho các nhà máy chế biến.

Thách thức lớn nhất đối với việc phát triển sinh kế bền vững tại địa phương là gì? Thách thức then chốt nằm ở chất lượng nguồn nhân lực thấp với tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 12% toàn huyện Đắk Tô. Cùng với đó là tập quán chăn nuôi gia súc thả rông, thói quen canh tác thiếu tính toán thị trường và sự mai một của các nghề thủ công truyền thống trước làn sóng hàng hóa công nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện bức tranh sinh kế của người Xơ Đăng tại xã Kon Đào từ kinh tế nương rẫy, ruộng nước cổ truyền, hái lượm săn bắt đến việc tích hợp các mô hình kinh tế thị trường hiện đại.
  • Công trình làm rõ quy luật biến đổi văn hóa sinh kế dưới tác động của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội sau Đổi mới 1986, chỉ ra sự chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp chiếm tới 64,45% diện tích tự nhiên.
  • Nghiên cứu nhận diện chính xác các điểm nghẽn về chất lượng lao động (chỉ 12% qua đào tạo) và sự mai một của các tri thức bản địa độc đáo như nghề rèn quặng, nghề dệt thổ cẩm khổ lớn.
  • Hệ thống 4 giải pháp đề xuất có tính khả thi cao, gắn liền với các mốc thời gian thực hiện cụ thể trong giai đoạn 2020 - 2025 nhằm thúc đẩy phát triển nông thôn mới bền vững.
  • Đề tài đóng góp nguồn tư liệu điền dã dân tộc học quý giá, làm giàu thêm kho tàng tri thức về cộng đồng các dân tộc thiểu số vùng Bắc Tây Nguyên.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan ban ngành quan tâm có thể tiếp cận trọn vẹn luận văn để khai thác sâu hơn hệ thống số liệu thực địa và các kiến nghị chính sách phát triển sinh kế bền vững cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số.