Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN. Lý thuyết khung sinh kế bền vững DFID. Tổng quan địa bàn nghiên cứu. 24 Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC NGUỒN LỰC TÁC ĐỘNG ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TỘC KHMER TẠI XÃ VĨNH HẢI, HUYỆN VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG.
Đặc điểm nhân khẩu học xã hội của hộ gia đình dân tộc Khmer. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu. Hoạt động kinh tế. Hoạt động kinh tế của hộ gia đình dân tộc người Khmer.
Việc làm cụ thể của từng thành viên trong hộ dân tộc Khmer. Các nguồn lực tác động đến sinh kế của hộ dân tộc Khmer. Nguồn vốn con người. Nguồn vốn tự nhiên.
Nguồn vốn vật chất. Nguồn vốn tài chính. Nguồn vốn xã hội. Hoạt động hỗ trợ của chính quyền và quan điểm về những điều kiện đang có tại địa phương hiện nay.
Hoạt động hỗ trợ của chính quyền. Vấn đề quan tâm của hộ dân tộc Khmer. 53 Chương 3: KẾT LUẬN. 62 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BHYT : Bảo hiểm y tế MTTQ : Mặt trận tổ quốc THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông TTCN : Tiểu thủ công nghiệp UBND : Ủy ban nhân dân DANH MỤC BẢNG BIỂU Hình 1.
Bản đồ Huyện Vĩnh Châu. Đặc điểm chung của hộ dân tộc Khmer. Các hoạt động kinh tế của hộ dân tộc Khmer. Việc làm của thành viên trong hộ dân tộc Khmer.
Độ tuổi lao động. Trình độ học vấn. Tình trạng sức khỏe và Bảo hiểm y tế. Nguồn gốc đất ở và đất canh tác.
Nguồn nước và chất lượng nước tưới tiêu. Diện tích đất và tình trạng nhà ở. Tài sản sinh hoạt trong gia đình. Nguồn năng lượng sử dụng và cách xử lý chất thải.
Chi phí sinh hoạt hàng tháng. Chi tiêu của gia đình so với thu nhập. Các nguồn vay vốn của hộ. Sự tham gia vào họp tổ chức đoàn thể tại địa phương.
Mối quan hệ với các dân tộc khác. Hoạt động hỗ trợ của chính quyền. Vấn đề quan tâm của hộ gia đình. Mức đánh giá của hộ gia đình về điệu kiện địa phương .Tính cấp thiết của đề tài Sinh kế ổn định đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu hiện nay của con người.
Nó là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển và nâng cao đời sống của con người .Hiện nay với 1,3 triệu đồng bào Khmer đang sinh sống chủ yếu ở Tây Nam Bộ [1]. Trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnh: Trà Vinh trên 318.000 người, chiếm 31,58% dân số tỉnh, Sóc Trăng trên 397.000 người, chiếm 30,71%, Kiên Giang trên 213.000 người, chiếm 12,5%, Bạc Liêu trên 66.000 người, chiếm 7,66%, An Giang trên 91.000 người, chiếm 4,24% [3].Từ lâu Đảng và chính phủ ta đã thông qua và thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ quan tâm chăm lo đến đời sống của các đồng bào dân tộc người Khmer hướng tới mục đích đại đoàn kết dân tộc thể hiện rõ thông qua nhiều chính sách như: Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo; Chương trình 134, Chương trình 135; Quyết định 54/QĐ-TTg; Quyết định 74/QĐ-TTg; 29/ QĐ-TTg. [5] Ngoài ra còn có các chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Khmer dành riêng cho người Khmer ở Tây Nam bộ, các nội dung thực hiện chính sách về bảo tồn, phát triển văn hóa đối với đồng bào Khmer, được bổ sung và cụ thể hóa thêm trong Chỉ thị 14/2003/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh - quốc phòng vùng đồng bằng sông Cửu Long, thời kỳ 2001 – 2010.[2] Cùng với đó là các chính sách về trợ giá, trợ cước, hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất, hỗ trợ vay vốn từ hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội để giúp hộ nghèo làm ăn, mua bán phát triển kinh tế gia đình, miễn giảm học phí, hỗ trợ học bổng, dành cho gia đình dân tộc Khmer. 1 Dù nhận được nhiều sự hỗ trợ từ chính phủ tuy nhiên đời sống đồng bào dân tộc Khmer nhìn chung vẫn còn khó khăn.
Trong giai đoạn 2006 - 2010 đã giảm được 42.352 hộ Khmer nghèo từ 103.170 hộ của đầu giai đoạn xuống còn 60.818 hộ vào cuối giai đoạn. Xét về tỷ lệ so với tổng số hộ Khmer, trong 5 năm các địa phương trong vùng giảm được 17,11%, trung bình mỗi năm giảm được 3,42%, tỷ lệ hộ nghèo còn lại cuối giai đoạn so với tổng số hộ Khmer là 24,57%. Giai đoạn 2011 – 2015 số lượng hộ Khmer giảm nghèo 9.352 hộ nhưng cũng có số hộ nghèo mới tăng là do các thành viên sinh sống trong hộ nghèo tiếp tục tách, lập thành hộ mới. Trong giai đoạn này, trung bình mỗi năm, các địa phương vùng Tây Nam Bộ giảm trung bình 3% hộ nghèo dân tộc Khmer, năm 2013 tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào giảm xuống còn khoảng 25% [3].
Đến cuối năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc theo chuẩn cũ giai đoạn 2011-2015 của toàn khu vực chiếm trên 13% .[14] Có thể thấy rằng những chính sách hỗ trợ của chính phủ đối với đồng bào dân tộc khmer khá toàn diện về mọi mặt và đã đem lại nhiều chuyển biến tích cực cho đời sống của họ. Trong đó đối với hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc Khmer ở các địa phương là một lĩnh vực được nhận nhiều sự hỗ trợ từ chính sách nhà nước và thực tế đã cho thấy rằng việc lựa chọn những hoạt động sinh kế của người đồng bào dân tộc Khmer chịu ảnh hưởng rất lớn từ các yếu tố: điều kiện tự nhiên, xã hội, con người, đất đai, vật chất, cơ sở hạ tầng. Trong thời đổi mới như hiện nay, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, vùng đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng sinh sống đang đối mặt với nhiều thách thức trong phát triển vì vậy cần có những cuộc điều tra nghiên cứu xã hội học về hoạt động sinh kế của đồng bào Khmer hiện nay là rất cần thiết để hiểu rõ hơn về vấn đề này. Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài nghiên cứu “Sinh kế người Khmer ở xã Vĩnh Hải, 2 huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng” làm luận văn Cao học.
Từ kết quả của cuộc nghiên cứu này sẽ cơ sở giúp cho các nhà quản lý có những giải pháp hỗ trợ chính sách hiệu quả cho hoạt động sinh kế của đồng bào Khmer góp phần từng bước cải thiện đời sống của họ. Tình hình nghiên cứu đề tài 2. Nghiên cứu nước ngoài liên quan đến sinh kế nói chung Bài viết khoa học “Documenting livelihood trajectories in the context of development interventions in northern Burkina Faso” của tác giả Colin Thor West đã nghiên cứu sinh kế của người dân tại phía bắc của Burkina Faso, tác giả đưa ra kết luận là : ". Bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững, các quỹ đạo sinh kế tập trung, tuy nhiên, một bức tranh khác xuất hiện.
Cải thiện SWC không liên quan đến những thay đổi tích cực trong các loại sinh kế khác. So sánh dữ liệu cấp hộ gia đình từ 1984–1985 với số liệu thực địa gần đây năm 2004 cho thấy lợi nhuận tài chính khá khiêm tốn. Các hộ nghèo vẫn nghèo. An ninh lương thực, một khía cạnh của vốn tự nhiên, đã được cải thiện phần nào chứ không phải cho các hộ nghèo.
Sự gắn kết xã hội, một chỉ số về vốn nhân lực, mặt khác, đã được củng cố và tăng cường. Nhìn chung, các dự án SWC đã tạo ra một quỹ đạo tích cực cho các hệ thống sinh kế Mossi trên cao nguyên phía bắc Trung tâm Burkina Faso trong hai hoặc ba thập kỷ qua. Những can thiệp này có thể được coi là một câu chuyện thành công phát triển đủ điều kiện cho vai trò của họ trong việc cải thiện vốn tự nhiên của các hộ gia đình, cộng đồng và toàn vùng. Sử dụng phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững, nghiên cứu này đã phát hiện ra rằng những cải tiến trong các hình thức vốn khác được pha trộn nhiều hơn.
Các hộ giàu đã tích lũy tài sản tài chính và duy trì mức độ sản xuất đủ cao trong ngũ cốc. Tuy nhiên, các hộ nghèo đã trở nên kém bền vững hơn hai mươi năm qua. Tài sản tài chính và an ninh lương thực của họ đã giảm theo thời gian và 3 quỹ đạo của họ vẫn tiêu cực.” [28] Bài nghiên cứu “Resilience and Livelihood Dynamics of Shrimp Farmers and Fishers in the Mekong Delta, Vietnam” của tác giả Tran Thi Phung Ha cùng các cộng sự, qua nghiên cứu sinh kế tại đồng bằng sông Cửu Long, các tác giả đã đưa ra nhận định “.Sự can thiệp của các chính sách, trước hết cần chú ý đến việc cân bằng giữa hai mục tiêu: cải thiện kinh tế ở hộ gia đình và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Kinh tế hộ gia đình được cải thiện thông qua các chương trình xoá đói giảm nghèo, đặc biệt đối với những người có thu nhập thấp bởi vì chỉ những hộ có thu nhập trung bình mới có khả năng bảo tồn tài nguyên, trong khi các nghèo thì không thể.
Mặc dù các chính sách quản lý rừng-tôm và đánh bắt nhằm tăng khả năng phục hồi sinh thái-xã hội của hệ thống, chính sách này lại không quan tâm đến kích thích tăng trưởng kinh tế của hộ gia đình, đó là lí do các chính sách không thành công trong việc phục hồi sinh thái của hệ thống. Vì vậy, chỉ nhấn mạnh vào tăng cường năng lực của chính quyền trong kiểm soát, quản xuất hợp tác và tăng cường kỹ thuật nuôi tôm. Ngoài ra, quan trọng nhất vẫn là phải phân cấp trách lí và ép buộc nông dân và ngư dân thực hiện các quy định để bảo tồn các nguồn tài nguyên là không đủ, mà đồng thời cần phải thúc đẩy việc cải thiện kinh tế - xã hội ở cấp hộ gia đình. Một trong những giải pháp để phát triển kinh tế nông hộ có thể là đa dạng hóa sinh kế phi nông nghiệp, thúc đẩy sản nhiệm và quyền quản lý rừng ngập mặn và tài nguyên ven biển cho người dân địa phương, cá nhân và cộng đồng”.
[23] Bài viết khoa học “Livelihood adaptation to climate variability and change in drought - prone areas of Bangladesh” của nhóm tác giả R. Juergens tiến hành nghiên cứu tai Bangladesh đã đưa ra khuyến nghị “.