Tổng quan nghiên cứu

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (Dịch vụ môi trường rừng - DVMTR) được Chính phủ Việt Nam ghi nhận là một trong 10 thành tựu nổi bật nhất của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn trong thập kỷ 2010–2020. Theo báo cáo từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, nguồn thu từ chi trả DVMTR năm 2019 đạt mức tương đương 164,9% tổng ngân sách nhà nước đầu tư cho lâm nghiệp và đóng góp tới 28,4% tổng nguồn vốn đầu tư toàn ngành vào cuối năm 2020. Mặc dù đóng vai trò là đòn bẩy tài chính quan trọng, việc lượng hóa tác động thực tế của chính sách đến đời sống của cộng đồng dân cư sinh sống tại các vùng đệm vườn quốc gia vẫn còn nhiều khoảng trống học thuật chưa được làm rõ.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Đánh giá tác động thực sự và tính bổ sung của chính sách chi trả DVMTR đối với sinh kế hộ gia đình, tách biệt hiệu quả của chính sách với các chương trình phát triển kinh tế xã hội khác. Mục tiêu cụ thể là phân tích sự biến đổi của năm nguồn vốn sinh kế, xác định các rào cản thể chế và đề xuất giải pháp chính sách nhằm gia tăng phúc lợi cho người dân làm nghề rừng.

Phạm vi không gian của đề tài được triển khai tại Vườn quốc gia Cát Tiên – khu dự trữ sinh quyển thế giới có diện tích 82.644,69 ha trải dài trên địa bàn 3 tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực hiện so sánh đối chứng trước khi có chính sách năm 2010 và sau 10 năm thực thi vào năm 2019–2020. Với tổng nguồn thu tích lũy đạt hơn 100 tỷ đồng và hỗ trợ trực tiếp cho 1.263 hộ gia đình cùng 44 cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng, kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2050.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết Chi trả dịch vụ môi trường (Payments for Ecosystem Services - PES) của Sven Wunder (2005) kết hợp khung phân tích của Luca Tacconi (2012). Theo đó, cơ chế PES được vận hành dựa trên 5 nguyên tắc cốt lõi: giao dịch tự nguyện, dịch vụ môi trường được xác định rõ ràng, có ít nhất một bên mua, có ít nhất một bên bán và tuân thủ tính có điều kiện nghiêm ngặt (bên cung ứng chỉ nhận chi trả khi chứng minh được dịch vụ rừng đã được duy trì và bảo vệ thực tế).

Đồng thời, nghiên cứu vận dụng Khung sinh kế bền vững của Vụ Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 1999) để đo lường toàn diện các biến đổi trong đời sống hộ gia đình thông qua ngũ giác 5 nguồn vốn sinh kế:

  • Vốn tài chính: Thu nhập bằng tiền mặt từ hợp đồng khoán bảo vệ rừng, dòng tiền tích lũy và khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng.
  • Vốn con người: Cơ cấu lao động, trình độ học vấn, kỹ năng tuần tra bảo vệ rừng và kiến thức canh tác nông lâm kết hợp.
  • Vốn tự nhiên: Diện tích đất rừng nhận khoán, trữ lượng tài nguyên lâm sản ngoài gỗ và nguồn nước sạch phục vụ sinh hoạt.
  • Vốn vật chất: Nhà ở kiên cố, cơ sở hạ tầng giao thông, phương tiện đi lại, máy móc nông nghiệp và tiếp cận hệ thống điện lưới quốc gia.
  • Vốn xã hội: Mạng lưới tổ nhóm cộng đồng nhận khoán, mối liên kết với ban quản lý rừng và sự tương trợ giữa các hộ dân bản địa.

Ngoài ra, luận văn tích hợp khung lý thuyết đánh giá tính bổ sung (Additionality framework) nhằm so sánh đa chiều giữa Trước – Sau và Tại nơi có – Tại nơi không có chính sách can thiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp đa nguồn. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2010–2020 của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam (VNFF), Ban quản lý Vườn quốc gia Cát Tiên và cơ sở dữ liệu từ Tổ chức Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR).

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua quy trình điều tra xã hội học với cỡ mẫu đại diện gồm hàng trăm hộ gia đình thuộc 44 cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng tại vùng đệm Vườn quốc gia Cát Tiên. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên có chủ đích được áp dụng nhằm phân loại chính xác các nhóm hộ nghèo, cận nghèo, hộ trung bình và các nhóm đồng bào dân tộc thiểu số bản địa. Phương pháp thu thập bao gồm khảo sát bảng hỏi cấu trúc, phỏng vấn sâu 20 cán bộ chuyên môn (KII) và tổ chức 12 cuộc thảo luận nhóm tập trung (FGD) tại các thôn ấp trọng điểm.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính (Difference-in-Differences kết hợp phân tích ma trận vốn) là nhằm triệt tiêu các yếu tố nhiễu ngoại cảnh từ các chương trình mục tiêu quốc gia khác, từ đó bóc tách chính xác mức độ đóng góp thực chất của dòng tiền DVMTR đối với từng chỉ số sinh kế của hộ gia đình trong khung thời gian 10 năm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng và định tính thực tế tại địa bàn Vườn quốc gia Cát Tiên đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, chính sách chi trả DVMTR tạo ra tác động tích cực và rõ nét nhất lên nguồn vốn tài chính của hộ gia đình. Nguồn ngân sách hơn 100 tỷ đồng giải ngân trong 10 năm đã phân phối trực tiếp đến 1.263 hộ dân và 44 cộng đồng. Tiền dịch vụ môi trường rừng đóng góp trung bình từ 10% đến 25% vào tổng thu nhập hàng năm của các hộ tham gia nhận khoán. Đáng chú ý, 100% hộ nghèo trong danh sách nhận khoán đều được tiếp cận dòng tiền mặt ổn định này, tạo nguồn lực tài chính trực tiếp để mua sắm vật tư nông nghiệp và phân bón.

Thứ hai, nguồn vốn con người được nâng cao thông qua việc thay đổi nhận thức và kỹ năng. Hơn 90% số hộ được phỏng vấn cho biết họ đã nắm rõ các quy định của Luật Lâm nghiệp 2017 và kỹ thuật phòng cháy chữa cháy rừng. Tham gia các khóa tập huấn do dự án tổ chức giúp năng suất cây trồng xen canh của các hộ tăng khoảng 12% so với trước năm 2010.

Thứ ba, sự biến đổi ở nguồn vốn vật chất và tự nhiên bước đầu ghi nhận các chỉ số tích cực nhưng chưa có tính đột phá. Diện tích rừng cung ứng DVMTR được giữ vững ở quy mô 82.644,69 ha, giúp giảm hơn 70% các vụ vi phạm chặt phá rừng tự nhiên. Về vốn vật chất, tỷ lệ hộ gia đình có nhà ở kiên cố và bán kiên cố tăng từ 45% năm 2010 lên hơn 78% năm 2019, đồng thời 85% số hộ đã tiếp cận được nguồn điện sinh hoạt lưới quốc gia và nước sạch hợp vệ sinh.

Thứ tư, nguồn vốn xã hội thể hiện qua tính gắn kết cộng đồng có sự chuyển biến phức tạp. Việc hình thành các tổ hợp tác tuần tra tại 44 thôn ấp giúp tăng cường sự liên kết nội bộ, tuy nhiên sự xuất hiện của yếu tố tiền tệ hóa cũng bắt đầu làm suy giảm tinh thần bảo vệ rừng tự nguyện truyền thống ở một số ít nhóm dân cư không thuộc diện thụ hưởng chính sách.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự bứt phá của nguồn vốn tài chính và con người là nhờ cơ chế ủy thác chi trả minh bạch thông qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh, giúp dòng tiền đến thẳng tay người dân mà không qua nhiều khâu trung gian gây thất thoát. Các chương trình hỗ trợ kỹ thuật đi kèm từ Ban quản lý Vườn quốc gia Cát Tiên và tổ chức CIFOR đã cung cấp các khóa tập huấn thực chất, nâng cao năng lực cho người dân tộc thiểu số tại chỗ.

So sánh với các nghiên cứu tương tự tại Sơn La (nghiên cứu của Phạm Thu Thủy và cộng sự ghi nhận DVMTR chỉ chiếm 1%–15% thu nhập) hay tại Quảng Nam, Thừa Thiên Huế (nghiên cứu của Đỗ Đăng Tèo), mức độ đóng góp tài chính tại Vườn quốc gia Cát Tiên đạt tỷ trọng cao hơn rõ rệt nhờ diện tích rừng đặc dụng lớn và đơn giá chi trả trên mỗi hecta ổn định.

Dữ liệu khảo sát được tổng hợp chi tiết qua biểu đồ phân bổ dòng tiền DVMTR và bảng ma trận ngũ giác sinh kế Trước – Sau chính sách. Kết quả trực quan cho thấy trục vốn tài chính và vốn con người mở rộng mạnh mẽ nhất, trong khi trục vốn tự nhiên và vốn xã hội có mức độ gia tăng chậm hơn. Điều này khẳng định rằng để sinh kế thực sự bền vững, chính sách không thể chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ tiền mặt hàng năm mà cần phải tích hợp các giải pháp phát triển sinh kế phi tiền tệ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá thực nghiệm, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm tối ưu hóa hiệu quả thực thi chính sách:

  • Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ môi trường rừng mới: Khẩn trương xây dựng đề án thí điểm dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng (REDD+), dịch vụ cung cấp nước cho nuôi trồng thủy sản và phát triển du lịch sinh thái có chia sẻ lợi ích. Mục tiêu nâng tổng nguồn thu hàng năm thêm 20%–30% và nâng mức chi trả bình quân lên tối thiểu 500.000 VNĐ/ha/năm trong giai đoạn 2021–2025 do Ban quản lý Vườn quốc gia Cát Tiên chủ trì phối hợp cùng các doanh nghiệp lữ hành.
  • Thành lập Quỹ sinh kế thôn bản tự quản: Trích lập từ 10% đến 15% tổng nguồn thu DVMTR hàng năm để hình thành quỹ quay vòng vốn không lãi suất tại 44 cộng đồng. Nguồn quỹ này phục vụ các dự án khởi nghiệp xanh, chăn nuôi gia súc nhốt chuồng và trồng cây ăn trái chất lượng cao, hoàn thành thiết lập cơ chế hoạt động trước quý IV/2023 dưới sự điều phối của Ủy ban nhân dân cấp xã và Hạt Kiểm lâm.
  • Hoàn thiện thể chế giao khoán gắn với bảo đảm quyền sử dụng đất: Tiến hành rà soát, chuẩn hóa hợp đồng khoán bảo vệ rừng dài hạn từ 5 đến 10 năm cho 100% hộ gia đình đủ điều kiện tại vùng đệm. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Sở Tài nguyên và Môi trường 3 tỉnh liên quan cần ban hành quy chế phối hợp quản lý ranh giới đất rừng trước năm 2025 nhằm giải quyết triệt để tranh chấp đất canh tác.
  • Tăng cường đào tạo nghề và chuyển giao công nghệ sinh học: Tổ chức định kỳ 4 đợt tập huấn/năm về kỹ thuật thâm canh nông lâm kết hợp, bảo quản và sơ chế lâm sản ngoài gỗ cho hơn 80% lực lượng lao động trẻ tại các ấp vùng đệm. Kế hoạch triển khai từ năm 2022 đến 2026 với sự tài trợ kỹ thuật của CIFOR và các trường viện lâm nghiệp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và thực tiễn chuyên sâu, là tài liệu tham khảo cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách lâm nghiệp: Cán bộ thuộc Tổng cục Lâm nghiệp, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam (VNFF), Vụ Kế hoạch Tài chính thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Luận văn cung cấp bằng chứng thực tế từ quy mô 82.644,69 ha để sửa đổi, bổ sung các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Lâm nghiệp 2017.
  • Ban quản lý các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên: Đội ngũ lãnh đạo và cán bộ phòng kỹ thuật quản lý rừng tại các khu bảo tồn trên toàn quốc. Đề tài cung cấp khung quy trình chuẩn trong việc tổ chức ký hợp đồng giao khoán, giám sát tuần tra tại 44 cộng đồng và minh bạch hóa cơ chế chia sẻ lợi ích tài chính.
  • Các tổ chức phát triển quốc tế và tổ chức phi chính phủ bảo tồn: Các chuyên gia từ CIFOR, WWF, USAID, GIZ và NORAD đang thực hiện các dự án bảo tồn đa dạng sinh học và chi trả dịch vụ sinh thái. Luận văn cung cấp bộ công cụ phương pháp luận đo lường tính bổ sung chuẩn xác để áp dụng vào các dự án viện trợ sinh kế.
  • Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Học viên cao học: Nhóm nghiên cứu chuyên sâu về các ngành Kinh tế phát triển, Chính sách công, Quản lý tài nguyên rừng và Xã hội học môi trường. Đây là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp khung sinh kế bền vững DFID.

Câu hỏi thường gặp

Chính sách chi trả DVMTR có thực sự giúp các hộ nghèo tại VQG Cát Tiên thoát nghèo bền vững không? Chính sách đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu tiền mặt ổn định, chiếm từ 10% đến 25% thu nhập hàng năm của hộ nghèo nhận khoán. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào khoản tiền này thì chưa đủ để thoát nghèo bền vững do đơn giá bình quân trên diện tích nhận khoán còn hạn chế. Chính sách cần kết hợp thêm quỹ tín dụng thôn bản và chuyển giao kỹ thuật sản xuất.

Điểm đột phá về phương pháp luận của luận văn so với các nghiên cứu trước đây là gì? Khác biệt lớn nhất là luận văn đã áp dụng khung phân tích tính bổ sung (Additionality framework) chuẩn quốc tế, so sánh đồng thời 4 trạng thái: Trước (2010) – Sau (2019) và Tại nơi có – Tại nơi không có can thiệp của chính sách DVMTR. Phương pháp này giúp triệt tiêu tác động của các yếu tố ngoại cảnh, chỉ ra chính xác mức độ đóng góp thực chất của chính sách lên 5 nguồn vốn sinh kế.

Dòng tiền hơn 100 tỷ đồng tại VQG Cát Tiên trong 10 năm qua được phân bổ như thế nào? Tổng nguồn thu từ các nhà máy thủy điện và cơ sở sản xuất nước sạch sử dụng dịch vụ môi trường rừng được chuyển về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, sau đó phân bổ trực tiếp cho Ban quản lý Vườn và thanh toán hợp đồng khoán bảo vệ rừng cho 1.263 hộ gia đình cùng 44 tổ cộng đồng thôn ấp định kỳ hàng quý, bảo đảm công khai và minh bạch.

Nguồn vốn nào trong ngũ giác sinh kế chịu ảnh hưởng hạn chế nhất từ chính sách? Nguồn vốn tự nhiên và vốn xã hội có mức độ chuyển biến chậm nhất. Mặc dù diện tích rừng 82.644,69 ha được giữ vững, quyền tiếp cận đất canh tác và nguồn khai thác lâm sản phụ hợp pháp của người dân chưa được mở rộng nhiều. Ngoài ra, việc tiền tệ hóa nhiệm vụ bảo vệ rừng đôi khi làm suy giảm sự gắn kết tự nguyện truyền thống của cộng đồng.

Làm cách nào để giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn rừng nghiêm ngặt và nhu cầu sinh kế của người dân bản địa? Nghiên cứu đề xuất giải pháp đồng quản lý và phát triển các mô hình kinh tế dưới tán rừng như trồng cây dược liệu, nuôi ong tự nhiên và phát triển du lịch sinh thái cộng đồng. Khi người dân được hưởng lợi ích trực tiếp từ việc giữ rừng thông qua cơ chế chia sẻ doanh thu du lịch, áp lực khai thác tài nguyên trái phép sẽ giảm thiểu rõ rệt.

Kết luận

  • Đóng góp thực tiễn to lớn: Khẳng định hiệu quả của dòng vốn 100 tỷ đồng trong 10 năm thực thi chính sách DVMTR, tạo sinh kế trực tiếp cho 1.263 hộ gia đình và 44 cộng đồng vùng đệm Vườn quốc gia Cát Tiên.
  • Chuyển dịch rõ rệt hai nguồn vốn: Chứng minh bằng số liệu thực nghiệm rằng chính sách tác động tích cực và mạnh mẽ nhất đến nguồn vốn tài chính (đóng góp 10%–25% thu nhập) và nguồn vốn con người (nâng cao năng lực cho hơn 90% hộ dân).
  • Giải quyết khoảng trống học thuật: Đóng góp phương pháp luận đánh giá tính bổ sung khoa học, khắc phục hạn chế của các báo cáo kỹ thuật định tính trước đây tại Việt Nam.
  • Định hình mô hình lâm nghiệp thế hệ mới: Đề xuất giải pháp mở rộng sang thị trường carbon, du lịch sinh thái và thành lập quỹ phát triển thôn bản tự quản giai đoạn 2021–2025.
  • Thúc đẩy chính sách lấy người dân làm trung tâm: Tạo tiền đề để các nhà hoạch định chính sách xem xét người dân vùng đệm là đối tác cung ứng dịch vụ bình đẳng, gắn quyền lợi kinh tế với trách nhiệm giữ vững 82.644,69 ha rừng đặc dụng.

Các cơ quan quản lý, ban quản lý rừng đặc dụng và cộng đồng học thuật cần tiếp tục nhân rộng khung phân tích đánh giá sinh kế này sang các hệ sinh thái rừng khác trên toàn quốc nhằm tối ưu hóa chính sách DVMTR trong kỷ nguyên kinh tế xanh.