chương 1, tác giả thiết kế nghiên cứu, xác định phương pháp nghiên cứu phù hợp với đề tài của mình. Trong đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu, xây dựng hệ thống các thang do, tiến hành nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng thông qua điều tra thực tế bằng cách xây dựng bảng câu hỏi khảo sát, phân phát bảng câu hỏi cho. khách hàng để thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và một số giải pháp nâng cao sự hài lòng của khách hàng Doanh nghiệp tại BIDV Bình Định Dựa trên dữ liệu thu thập được từ phiếu khảo sát, sử dụng phần mềm phân tích dữ liệu SPSS 16.0 cùng với tham khảo sách “Phân tích dữ liệu với SPSS” do Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (biên soạn năm 2008), 'NXB Hồng Đức và giáo trình giảng dạy môn Phương pháp nghiên cứu khoa học do TS Lê Văn Huy, Trường Đại học Đà Nẵng biên soạn.
Từ đó, phân tích nhằm tìm ra nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng Doanh nghiệp tại BIDV Bình Định và chỉ số hài lòng của họ đối với từng nhân tố, từ đó làm cơ sở để đề xuất một số giải pháp đối với việc nâng cao sự hài lòng của khách hàng Doanh nghiệp tại BIDV Bình Định. Bên cạnh đó, tác giả còn nêu lên một số hạn chế của đề tài nghiên cứu và các kiến nghị nhằm mở rộng, phát triển cho các nghiên cứu tiếp theo. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LÒNG 1. CO SO LY LUAN VE DICH VU, CHAT LUQNG DỊCH VỤ VÀ SỰ HAI LONG CUA KHACH HANG 1.
Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phô biến nên có rất nhiều cách định nghĩa về dịch vụ. Theo Zeithaml & Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng, đây là khái niệm được sự chấp nhận và sử dụng rộng rãi nhất. Còn theo Kotler & Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. Bản chất của dịch vụ Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu.
Sản phẩm của dịch vụ có thể thay đồi trong phạm vi của sản phẩm vật chất. Quá trình hoạt động của dịch vụ diễn ra theo một trình tự bao gồm nhiều khâu, nhiều bước khác nhau. Giá trị của dịch vụ gắn liền với lợi ích mà họ nhận được từ dịch vụ. Tính chất của dịch vụ Dịch vụ có 4 tính chất dưới đây: ~ Tính vô hình (intangibility): một dịch vụ thuần túy không thể được.
đánh giá bằng cách sử dụng bắt kỳ giác quan cơ thể nào trước khi nó được mua. Vì vậy, để giảm sự không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm các bằng chứng của chất lượng dịch vụ từ những đối tượng họ xúc, trang thi bị,. mà họ thấy được. - Tính không thể tách rời (inseparability): đặc thù của dịch vụ là được sản xuất và tiêu thụ đồng thời cùng một lúc.
Nếu một người nào đó thuê dịch vụ thì bên cung cấp dịch vụ sẽ là một phần của dịch vụ, cho dù bên cung cấp dịch vụ là con người thật hay máy móc. Bởi vì khách hàng sẽ có mặt lúc dịch vụ được cung cấp nên sự tương tác giữa bên cung cấp dịch vụ và khách hang là một đặc tính đặc biệt của marketing dịch vụ. ~ Tính hay thay đôi (variabii ê hiện ở đặc điểm chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào người cung cấp dịch vụ, thời gian, địa điểm và cách thức dịch vụ được cung cấp. ~ Tính đễ bị phá vỡ (perishability): dịch vụ khác với các hàng hóa thông thường ở chỗ không thể cất giữ được.
Dịch vụ nhạy cảm hơn các hàng hoá thông thường trước những thay đổi và sự đa dạng của nhu cầu. Khi nhu cầu thay đổi thì các công ty dịch vụ thường gặp khó khăn, chính vì vậy các công ty dịch vụ luôn phải tìm cách để làm cung và cầu phù hợp nhau. Chất lượng dịch vụ a. Khái niệm chất lượng dịch vụ Khác với chất lượng hàng hóa là hữu hình và có thể đo lường bởi các tiêu chí khách quan như tính năng, đặc tính và độ bẻn thì chất lượng dịch vụ là vô hình.
Do đó, tài liệu xác định chất lượng dịch vụ dựa theo chủ quan, thái độ và khả năng nhận biết. Theo Zeithaml (1987) thì “Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng vẻ tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể. Nó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ ta nhận được” Như vậy, chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng về những tiện ích và dịch vụ sẽ mang lại cho họ và cảm nhận của khách hàng về kết quả có được sau khi đã sử dụng dịch đó Dịch vụ ngân hàng là một sản phẩm vô hình, phi vật chất hoặc thực hiện công việc mà không đưa đến quyền sở hữu vật chất nào đó. Do dé, theo các chuyên gia, chất lượng dịch vụ ngân hàng có liên quan đến quá trình ảnh hưởng lẫn nhau giữa ngân hàng và khách hàng.
Nhu vậy, chất lượng dịch vụ ngân hàng phụ thuộc đáng kể vào quá trình so sánh chất lượng dịch vụ ngân hàng mong đợi bởi khách hàng trước khi sử dụng dịch vụ và nhận thức trực tiếp chất lượng dịch vụ tại thời điểm sử dụng và sau khi sử dụng nó. Mong đợi của khách hàng với chất lượng tương ứng có thẻ được khẳng định hoặc không được khẳng định. Nếu không được khăng định sẽ dẫn đến việc ra đi của khách hàng đến các đối thủ cạnh tranh và cần phải tốn nhiều chỉ phí cho hoạt động marketing trong ngân hàng để thu hút khách hàng mới thay cho số khách hàng cũ đã mất. Theo nghiên cứu, thì chỉ phí để thu hút một khách hàng mới tốn kém gấp 5 lần so với việc giữ chân một khách hàng cũ.
Sự xác nhận mong đợi sẽ dẫn đến sự trung thành lâu dài của khách hàng, và đôi khi được gọi là marketing quan hệ. Marketing quan hệ đảm bảo thành công lâu dai cua ngân hàng nhờ lợi nhuận ồn định, trên cơ sở lòng trung thành của khách hàng và nhờ cắt giảm chỉ phí hoạt động marketing đề thu hút khách hàng mới. Các nhân tố quyết định chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ được đo lường bởi nhiều yếu tố và việc nhận định chính xác các yếu tố này phụ thuộc vào tính chất của dịch vụ và môi trường nghiên cứu. Có nhiều tác giả đã nghiên cứu vấn đề này nhưng phổ biến nhất và biết đến nhiều nhất là các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ của Parasuraman và các đồng sự.
Nam 1985, Parasuraman và các đồng sự đã đưa ra mười nhân tố quyết 10 định chất lượng dịch vụ được liệt kê dưới đây: 1- Khả năng tiếp cận (access) 2- Chất lượng thông tin liên lạc (communication) 3- Năng lực chuyên môn (competence) 4- Phong cách phục vụ (courtesy) 5- Tén trong khach hang (credibility) 6- Đáng tin cậy (reliability) 7- Hiệu quả phục vụ (responsiveness) 8- Tinh an toàn (security) 9- Tính hữu hình (tangibles) 10- Am hiểu khách hàng (understanding the customer) 'Và đến năm 1988, ông đã khái quát hoá thành 5 nhân tố cụ thể như sau: 1- Sự tin cây (reliability) 2- Higu qua phuc vu (responsiveness) 3- Sự hữu hình (tangibles) 4- Sự đảm bảo (assurance) 5- Sự cảm thông (empathy) XIXSXX X XS XueXuXc XuXsXuXz XaXeXeXaXn Hình 1.1: Mô hình chất lượng dịch vụ của Parasurama, Zeithaml và Berry (1988) ll Nam 1990, Gronroos đã tiền hành nghiên cứu và đưa ra sáu nhân tố đo lường chất lượng dịch vụ như sau: 1- Có tinh chuyén nghiép (professionalism and skills) 2- Có phong cach phuc vu an can (attitudes and behaviour) 3- C6 tinh thuan tign (accessibility and flexibility) 4- Có sự tin cdy (reliability and trustworthiness) 5- C6 sy tin nhiém (reputation and credibility) 6- Có khả năng giải quyết khiếu kiện (recovery) Đến năm 2001, Sureshchandar et al cũng đưa ra năm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ bao gồm: 1- Yếu tô dịch vụ cốt lõi (core service) 2- Yếu tố con người (human element) 3- Yếu tố kỹ thuật (non-human element) 4- Yếu tố hữu hình (tangibles). 5- Yếu tố cộng đồng (social responsibility) Các yếu tố đo lường chất lượng dịch vụ rất đa dạng, được xác định khác nhau tùy thuộc vào từng ngành dịch vụ cần nghiên cứu. Vì vậy, đối với mỗi ngành dịch vụ khác nhau thì cần thực hiện những nghiên cứu riêng phù hợp với từng ngành cụ thể. Sự hài lòng của khách hàng a.
Khái niệm sự hài lòng của khách hàng Có nhiều khái niệm về sự hài lòng của khách hàng, cụ thể như: - Theo Oliver (1997): sự hải lòng của khách hàng là sự phản hồi của người tiêu dùng, là những nhận xét về các đặc tính của sản phẩm, dịch vụ hay chính bản thân sản phẩm, dịch vụ này. Các phản ứng này sẽ cho thấy các mức độ hài lòng khác nhau khi họ tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ. - Theo Zeithaml & Bitner (2003): sự hài lòng là quá trình nhận xét, 12 đánh giá của khách hàng về sản phẩm hay dịch vụ mà sản phẩm hay dịch vụ này có đáp ứng được các nhu cầu và sự kỳ vọng của họ hay không. - Theo Phillip Kotler & Amstrong (2004): sự hài lòng của khách hàng về một cuộc mua tuỳ thuộc vào công năng của sản phẩm so với những gì người mua đang kỳ vọng.
Người tiêu thụ có thể mang những cấp độ hài lòng khác nhau. Nếu công năng của sản phẩm yếu hơn so với kỳ vọng, khách hang sẽ bất mãn. Nếu công năng của sản phẩm khớp với các kỳ vọng, khách hang đó sẽ hài lòng. Nếu công năng còn cao hơn cả kỳ vọng, khách hàng sẽ hết sức hài lòng và vui mừng.
Như vậy, sự hài lòng của khách hàng là việc đo lường mức độ trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm hay dịch vụ với những kỳ vọng của người đó.