CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN VE DICH VU VA CHAT LƯỢNG DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN 1.1 TONG QUAN VE DICH VU KHÁCH HÀNG 1.1 Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong marketing và kinh doanh. Hiện nay có nhiều định nghĩa về dịch vụ được đưa ra, theo các nhà nghiên cứu dịch vụ có thể hiểu là: “Dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình thường, nhưng không cần thiết, diễn ra trong các mỗi tương tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ và/hoặc các nguồn lực vật chất hoặc hàng hóa và/hoặc các hệ thống cung ứng dịch vụ được cung cấp như là các giải pháp giải quyết các vấn đề của khách hàng” (Gronroos, 1990). Theo Zeithaml va Bitner (2000) thì “địch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng. cho khách hàng làm thỏa mãn như câu và mong đợi của khách hàng” “Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động phía trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp địch vụ tương tác với nhau.
Mục đích của việc tương tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng” (Bùi Nguyên Hùng Nguyễn Thúy Quỳnh Loan, 2004).2 Khách hàng Khách hàng của một tổ chức là một tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp. có nhu cầu sử dụng sản phẩm của công ty và mong. muốn được thỏa mãn nhu cầu đó. Trong nền kinh tế thị trường khoánh hàng có vị trí rất quan trọng, khách hàng là Thượng Đế.
Khách hàng là người cho ta tất cả. Peters 10 (1997) xem khách hàng là “tai sản làm tăng thêm giá trƒ”.Đó là tài sản quan trọng nhất mặc dù giá trị của họ không có ghi trongt số sách công ty. Vì vậy các công ty phải xem khách hàng như là nguồn vốn cần được quản lý và phát huy như bắt kỳ nguồn vốn nào khác. Peters Drucker (2007), cha đẻ của ngành quản trị cho rằng mục tiêu của công ty là “tạo ra khách hàng”.
“Khách hàng là người quan trọng nhất đối với chúng ta. Họ không phụ thuộc vào chúng ta mà chúng ta phụ thuộc vào họ. Họ không phải là kẻ ngoài cuộc mà chính là một phần trong việc kinh doanh của chúng ta. Khi phục vụ khách hàng, không phải chúng ta giúp đỡ họ mà họ đang giúp đỡ chúng ta bằng cách cho chúng ta cơ hội để phục vụ.3 Dich vụ khách hàng, Dịch vụ khách hàng (customer service) là các dich vụ bổ xung tối thiểu đi kèm theo sản phẩm cốt lõi khi bán sản phẩm cho khách hàng Trong phần trên chúng ta đã nghiên cứu khái niệm các cấp độ của sản phẩm.
Dịch vụ khách hàng thuộc vào cấp độ 3, là hàng hoá bổ sung, nâng cao. Dịch vụ khách hàng bao gồm các dịch vụ như báo lành, sửa chữa, hình thức thanh toán, giao hàng tại nhà, lắp đặt, huấn luyện, tư vẫn lựa chọn sử dụng sản phẩm, cung cáp đầy đủ thông tin về sản phẩm, nhằm làm tăng thêm giá trị của sản phẩm cốt lõi, giúp cho khách hàng tiện lợi hon, hai lòng hơn. Cấp độ này chính là vũ khí cạnh tranh của công ty. Các dịch vụ khách hàng sẽ ngày cảng phong phú hơn khi mức độ cạnh tranh trên thị trường càng mạnh hơn (Nguyễn Thượng Thái, 2007).
Nhu vậy, dịch vụ khách hàng là một bộ phận cấu thành quan trọng của sản phẩm mà chúng ta đem bán ra thị trường. Thiếu dịch vụ khách hàng thì sản phẩm xem như là chưa hoàn chỉnh.4 Đặc tính của dịch vụ Dịch vụ là một “sản phẩm đặc biệt” có các đặc trưng phân biệt so với hàng hóa thuần túy. Parasuraman và cộng sự (1985) chỉ ra sự khác biệt của dịch vụ với sản phẩm hữu hình là do các đặc trưng sau: + Tỉnh vô hình (Imangibility) Hàng hoá có hình dáng, kích thước, màu sắc và thậm chí cả mùi vị Khách hàng có thể tự xem xét, đánh giá xem nó có phù hợp với nhu cầu của. mình không Ngược lại, dịch vụ mang tính vô hình, làm cho các giác quan của khách hàng không nhận biết được trước khi mua dịch vụ.
Đây chính là một khó khăn lớn khi bán một dịch vụ so với khi bán một hàng hoá hữu hình, vì khách hàng khó thử dịch vụ trước khi mua, khó cảm nhận được chất lượng, khó lựa chọn dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ khó quảng cáo về dịch vụ. Do vậy, dịch vụ khó bán hơn hàng hoá. Parasuraman, và cộng sự (1985) cũng bình luận rằng tính vô hình có nghĩa là “Hầu hết các dịch vụ không thể đo,đếm, thống kê, thử nghiệm và chứng nhận trước khi cung cấp dé đảm bảo chất lượng dịch vụ”. $* Tính không đẳng nhdt (Heterogeneity) Dịch vụ không thể được cung cấp hàng loạt, tập trung như sản xuất hàng hoá.Do vậy, nhà cung cấp khó kiểm tra chất lượng theo một tiêu chuẩn thống nhất.
Mặt khác, sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ lại chịu tác động mạnh bởi kỹ năng, thái độ của người cung cấp dịch vụ. Sức khoẻ, sự nhiệt tỉnh của nhân viên cung cấp dịch vụ vào buổi sáng và buổi chiều có thể khác nhau. Do vậy, khó có thẻ đạt được sự đồng đều vẻ chất lượng dịch vụ ngay trong một ngày. Dịch vụ càng nhiều người phục vụ thì càng khó đảm bảo tính đồng đều vẻ chất lượng.
Vì chất lượng dịch vụ phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố không kiểm soát được như: thời gian, địa điểm, đối tượng phục vụ, môi trường, điều kiện 12 cung ứng. nên nhìn chung, gần như không thể cung ứng dịch vụ hoàn toàn giống nhau, cũng không thể chắc chắn được liệu dịch vụ được giao phù hợp. với dịch vụ được đặt kế hoạch và được công bó. Cũng vì đặc điểm này mà dịch vụ mang tính dễ hỏng, nhà cung cấp dịch vụ không thể kiểm tra chất lượng trước khi cung ứng mà chỉ còn cách làm đúng từ đầu và làm đúng mọi lúc.
Do đó, việc cung ứng dịch vụ và thỏa mãn khách hàng tùy thuộc nhiều vào hoạt động của nhân viên. Nhân viên có vai trò và ảnh hưởng rất lớn đến kết quả dịch vụ, vì vậy hoạt động của nhân viên thường được khách hàng thẩm định khi đánh giá dich vụ. Để khắc phục nhược điểm này, doanh nghiệp có thể thực hiện cơ giới hoá, tự động hoá trong khâu cung cấp dịch vụ, đồng thời có chính sách quản lý nhân sự đặc thù đối với các nhân viên cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, việc tiếp xúc với nhân viên cung cấp dịch vu lịch sự, niềm nở cũng là một yếu tổ hấp dẫn khách hàng.
Mặt khác, không phải bắt kỳ dịch vụ nào cũng có thể tự động hoá quá trình cung cấp được. + Tinh không thé tách rời (inseparability) Hàng hoá được sản xuất tập trung tại một nơi sau đó vận chuyển đến nơi có nhu cầu,khi ra khỏi dây chuyền sản xuất thì hàng hóa đã hoàn chỉnh Dó đó, nhà sản xuất có thể dat được tính kinh té theo quy mé do sản xuất tập trung, hàng loạt, và quản lý chất lượng sản phẩm tập trung, Nhà sản xuất cũng. có thể sản xuất khi nào thuận tiện, cất trữ vào kho và đem bán khi có nhu cầu. Do vậy, họ dễ thực hiện cán đối cưng cầu.
Nhưng dịch vụ không thể phân chia giữa giai đoạn sản xuất và tiêu thụ, quá trình cung cấp dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời. Người cung cấp dịch vụ và khách hàng. phải tiếp xúc với nhau để cung cấp và tiêu dùng dịch vụ tại các địa điểm và thời gian phủ hợp cho hai bên.Đối với một số các dịch vụ, khách hàng phải có. mặt trong suốt quá trình cung cắp dịch vụ.
3 Trong quá trình thực hiện dịch vụ, khách hàng đồng thời tham gia vào và ảnh hưởng đến quá trình cung cắp dịch vụ. Khách hàng cũng có tác động, và tương tác lẫn nhau trong quá trình tiếp nhận dịch vụ. Khách hàng đánh giá dịch vụ dựa vào cảm nhận cá nhân của mình rất nhiều. Do vậy, chất lượng dịch vụ phụ thuộc một phan theo trang thái tâm lý của khách hàng.
+ Tinh khong thể dự trie Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp, dịch vụ được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó. Do vậy, dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để cắt vào kho dự trữ, khi có nhu cẩu thị trường thì đem ra bán. Vi vậy, việc sản xuất hay cung ứng dịch vụ với quy mô lớn là rất khó khăn. Sản phẩm dịch vụ cũng không thể hoàn trả, thu hồi hay bán lại.
Nếu khách hàng không hài lòng, họ có thể được hoàn tiền nhưng không thể hoàn lại được.2 CHAT LUQNG DICH VU KHACH HANG TRONG KHACH SAN 1.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ Theo Coronin va Taylor (1992), chất lượng dịch vụ là yếu tố sống còn quyết định mức độ hài lòng của khách hàng. Chất lượng dịch vụ là điều kiện tiên quyết đối với sự bền vững của doanh nghiệp (Brady, 2000) và trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu như hiện nay, dịch vụ chất lượng cao là nhân thành công của doanh nghiệp (Hook va Higgs, 2002). Một khi những điều kiện khác đã được thỏa mãn thì tắt yếu doanh nghiệp có được sự trung thành của khách hàng và đạt mức lợi nhuận cao hơn. Bởi vậy, một chiến lược quan trọng của các công ty là đánh giá và giám sát chất lượng dịch vụ và mức độ hài lòng của khách hàng, vì đây cũng chính là tiền đề để đánh giá sự hài lòng.
của khách hàng. Lehtinen & Lehtinen (1982) cho rằng chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh, (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của 14 dịch vụ. Gronroos (1984) cũng đề nghị hai thành phần của chất lượng dịch vụ, đó là (1) chất lượng kỹ thuật, là những gì mà khách hàng nhận được và (2) chất lượng chức năng, diễn giải dịch vụ được cung cấp như thế nảo. nhiên, khi nói đến chất lượng dịch vụ, chúng ta không thẻ nào không đề cập đến đóng góp to lớn của Prasuraman và đồng nghiệp (1988, 1991), định nghĩa chất lượng dịch vụ là “mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ sau khi sử dụng dịch vụ”.
Theo Zeithaml (1988): Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể.