Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong tô chức. Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi Chương 3: Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực của Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu. “Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực.
Các công trình này đều nhắn mạnh vẻ tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực, trong đó có phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức, đồng thời dua ra những kiến nghị khoa học về các định hướng và giải pháp đối với vấn đề này. Tiêu biểu là một số tác giả và công trình nghiên cứu sau: “Trên thể giới, từ thập niên 90 trở lại đây đã có nhiều nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực một cách có hệ thống. Có thể kể đến như công trình nghiên cứu của các tác giả Richard A. Swanson và Elwood F.
Holton 112001), nghiên cứu này nhắn mạnh “Mô hình đào tạo mang tính hệ thống. sồm phân tích, thiết kế, phát triển, thực hiện và đánh giá (ADDIE) được sử dụng trên 30 năm qua trên thế giới là những nội dung cốt lõi của phát triển nguồn nhân lực trong mỗi tổ chức [23]. Ngoài ra, cuốn sách “Phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức quy mô nhỏ - nghiên cứu và thực tiễn” của Jim Stewart và Graham Beaver (2004) đã nêu lên nghiên cứu về các cách tiếp cận để phát triển nguồn nhân lực trong các tô chức quy mô nhỏ và đề cập đến các. phương pháp phát triển nguồn nhân lực mà các tô chức quy mô nhỏ thường áp dụng và thực hành [5] Bên cạnh đó, ở Việt Nam trong thời gian gần đây bắt đầu đã có nhiều người quan tâm, nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực theo góc độ của các tổ chức, doanh nghiệp.
Điền hình như bài báo khoa học: ột số vấn đề về đảo tạo và phát triển nguồn nhân lực” của tác giả Võ Xuân Tiến đăng trên tạp chí Khoa học và công nghệ Đại học Đà Nẵng số 5 (2010) đã làm sáng tỏ được nội dung: “Nguồn nhân lực là nguồn lực quý giá nhất của. các tổ chức, đơn vị là yếu tố quyết định sự thành bại của họ trong tương lai. Bởi vậy, các tổ chức và đơn vị luôn tìm cách để duy trì và phát triển nguồn nhân lực của mình”. Qua đó, tác giả đã nhắn mạnh: “Một trong các biện pháp hữu hiệu nhất nhằm thực hiện mục tiêu trên là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực” [12].
Đồng thời, bài báo khoa học: “Phát huy nguồn nhân lực bằng. động lực thúc đây” của tác giả Nguyễn Văn Long đăng trên tạp chí Khoa học. và công nghệ Đại học Đà Nẵng số 4 (2010) đã dé cập đến ý nghĩa và vai trò quan trọng của động lực thúc đây đối với nhân viên và đi sâu phân tích nội dung các yếu tố mà tổ chức có thễ sử dụng để nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng đông lực thúc đây [8] 'Về lý thuyết cũng có nhiều quan điểm về phát triển nguồn nhân lực như: Giáo trình “Quản trị Nguồn nhân lực” của tác gid Tran Kim Dung, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh (2009) [2]; Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực do hai tác gải Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Văn Điểm biên soạn (2010) [4]; Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực do tác giả Nguyễn Quốc Tuấn chủ biên và các tác giả Đoàn Gia Dũng, Đào Hữu Hỏa, Nguyễn Thị Loan, Nguyễn Thị Bích Thu, Nguyễn Phúc Nguyên đồng biên soạn (năm 2006) [15]. Các tài liệu, giáo trình trên đều đề cập đến các khái niệm và thuật ngữ có liên quan đến nguồn nhân lực, quản trị và phát triển nguồn nhân lực.
Trong đó, đã trình bày một cách rõ ràng về các thuật ngữ, nội dung, tiến trình, phương pháp đào. tạo và phát triển nguồn nhân lực. Nhìn chung, cho tới nay có khá nhiều nghiên cứu, báo cáo về vai trò của phát triển nguồn nhân lực trong các tô chức. Mặc dù đã có một số công.
trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực cho ngành Hải quan nói chung. nhưng chưa có một công trình nghiên cứu nào tập trung đến vấn đẻ phát triển nguồn nhân lực cho Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi. Nhận thức rõ điều này, kế thừa những thành tựu nghiên cứu đi trước, tác giả đã tiến hành nghiên cứu chuyên sâu về phát triển nguồn nhân lực tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE PHAT TRIEN NGUON NHAN L TRONG TO CHUC 11.
KHAI QUAT VE NGUON NHAN LYC VA PHAT TRIEN NGUON NHAN LỰC TRONG TÔ CHỨC 1. Khái niệm nguồn nhân lực & Nhân lực Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động [7]. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con người có sức lao động. Nhân lực là sức mạnh của nhân viên, sức mạnh của lãnh đạo, công chức trong tô chức.
Sức mạnh phải được kết hợp giữa nhân viên và các nhóm yếu tố như sức khỏe, trình độ, tâm lý và khả năng cố gắng. Theo Nguyễn Lộc (2010), nhân lực là nguồn nhân lực của mỗi con người gồm thể lực, trí lực và nhân cách [7] ~ Trí lực là năng lực của trí tuệ, sự hiểu biết, trình độ hiểu biết, trình độ chuyên môn, kỹ năng lao động, mặt tiềm tàng của con người như tài năng, năng khiếu,. không chỉ do thiên bẩm mà còn phụ thuộc vào quá trình rèn luyện, phần dau, tu dưỡng của mỗi cá nhân. ~ Thể lực gồm sức khỏe cơ bắp, sự đẻo dai của hoạt động thần kinh, sức mạnh của ý chí, khả năng vận động của trí lực.
Thể lực là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện tắt yếu đề truyền tải trí thức va hoạt động thực tiễn, biến trì thức đó thành sức mạnh vật chất. do đó, sức mạnh trí tuệ chí có thể phát thuy được lợi thế khi thê lực được phát triển. Nói cách khác, trí tuệ là tài sản quý giá nhất của mọi tài sản nhưng sức khỏe lại là tiền đề cần thiết đề làm ra tai sản đó. 10 ~ Nhân cách được hiểu là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người.
Nhân cách là sự tổng hợp không phải các đặc điểm cá thể của cá nhân mà chỉ là những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý — xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân. Nguôn nhân lực Nguồn nhân lực của tô chức gồm các cá nhân có vai trò khác nhau va được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định sự thành công trong sự phát triển của mỗi doanh nghiệp nên đóng vai trò vô cùng quan trọng. ‘Theo Nicholas Henry (2007) “nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng.
và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của doanh nghiệp cùng với su phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới” [20]. Theo cách hiểu này, nguồn nhân lực được coi là nguồn lực với các yếu tố vật chát, tỉnh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển chung của các tổ chức. “Theo giáo trình “Quản trị nguồn nhân lực” của trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng (2006), “Nguồn nhân lực là nguồn vốn con người gồm những nhân viên trong tổ chức với kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, chính kiến, sự thông minh, các mối quan hệ và các đặc điểm mà nhân viên có thé làm gia tăng giá trị kinh tế cho tổ chức” [15, tr.1] Nhu vậy, dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng nhìn chung các. khái niệm đều tập trung vào số lượng và chất lượng nguồn nhân lực.
Trong đó ~ Số lượng nguồn nhân lực thể hiện qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ phát triển nguồn nhân lực. ~ Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều bộ phận như 1 trí lực, thể lực và nhân cách thẩm mỹ của nhân viên. “Trong phạm vi đề cương luận văn, nguồn nhân lực là tiểm năng lao động, của con người gồm phẩm chất và năng lực (trí lực, tâm lực, thể lực, kỹ năng. nghề nghiệp) đáp ứng nhu cầu phát triển của tổ chức.
Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Trong tô chức, phát triển nguồn nhân lực là sự phát triển liên quan đến việc giúp nhân viên có được kiến thức, kĩ năng và hành vi nhằm cải thiện năng lực của nhân viên để đáp ứng được những thách thức của nhiều công việc hiện tại hoặc công việc mới, bao gồm nhu cầu của khách hàng đối với những công việc đó. Mục tiêu tổng quát của phát triển nguồn nhân lực là đem đến sự thành công cho cả tô chức. Phát triển không chỉ gồm đảo tạo mà còn cả sự nghiệp và những kinh nghiệm khác nữa. 'Về phát triển nguồn nhân lực, tùy theo các góc nhìn và hướng tiếp cận khác nhau mà có một số khái niệm về phát triển nguồn nhân lực như sau: “Theo MeLean & MeLean (2000), “Phát triển nguồn nhân lực là bất cứ quá trình hay hoạt động nào nhằm phát triển những kiến thức làm việc cơ bản, sự tỉnh thông, năng suất, và sự hài lòng mà cần cho một đội, nhóm, cá nhân hoặc nhằm mang lại lợi ích cho một tổ chức, công đồng, quốc gia hay tóm lại là cần cho toàn nhân loại” [20, tr.7] “Theo Swanson and Holton III (2001) “Phát triển nguồn nhân lực là một quá trình phát triển và thúc đẩy sự tỉnh thông của con người qua việc phát triển tổ chức, đào tạo và phát triển nhân sự nhằm cải thiện năng suất” [23, trl3] Theo tác giả Nguyễn Vân Điểm và Nguyễn Ngọc Quân (2012), “Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tô chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định nhằm tạo sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của nhân viên” [4, tr.S3] Theo Nguyễn Quốc Tuấn và các tác giả (2006) thì phát triển nguồn 12 nhân lực nhằm vào phát triển năng lực của người nhân viên và các nhà quản trị cho các nhiệm vụ trong tương lai là xem phát triển năng lực các nhà quản trị là thành tố quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực.