Chương I: Cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu. Chương 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu 6. Mô hình mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của bệnh nhân đối với dịch vụ y tế của các Bệnh viện tuyến quận huyện tại thành phố Cần Thơ (2014). Tác giá: Lê Nguyễn Đăng Khôi, Nguyễn Việt Thùy, Đỗ Hữu Nghị. Tóm tắt bài báo: Mục đích của nghiên cứu nhằm xác định mô hình mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của bệnh nhân đối với dịch vụ y tế của các bệnh viện tuyến quận huyện tại Thành phố Cần Thơ.
Nghiên cứu được thực. hiện khảo sát với 200 bệnh nhân. Các phương pháp phân tích được sử dụng như cronbach`s alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), mô hình cấu trúc. tuyến tính (SEM) trong việc kiểm định mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của bệnh nhân.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, chất lượng. dịch vụ y tế được hình thành trên cơ sở các thành phần như “Thời gian khám chữa bệnh”, “Nhân viên khám chữa bệnh”, “Kết quả khám chữa bệnh”, “Chỉ phí khám chữa bệnh”, “Sự đảm bảo”. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, chất lượng dịch vụ tác động trực tiếp và cùng chiều đến sự hai long của bệnh nhân đối với dịch vụ y tế của các bệnh viện tuyến quận huyện tại Thành phố Cần Thơ. Luận văn cña tác giả Nguyễn Xuân Vỹ (2011), nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa Phú Yên”, Đại học Nha trang.
Các khái niệm nghiên cứu bao gồm (1) Sự tin cậy; (2) Sự đảm bảo (3) Thái độ nhiệt tình cảm thông; (4) Phương tiện hữu hình (5) Chỉ phí khám chữa bệnh Kết quả đánh giá thang đo các khái niệm nghiên cứu sử dụng hệ số tin cây Cronbach alpha va phân tích nhân tố khám phá EFA: các thang đo đều đạt yêu cầu về độ tin cậy và giá trị. Những kết quả trên cho thấy thang đo các khái niệm chất lượng dịch vụ có thể sử dụng ở Việt Nam sau khi đã điều chỉnh cho phù hợp với môi trường văn hóa và điều kiện ở Việt Nam. Bài báo “Thang đo chất lượng dịch vụ bệnh viện” tác giả Lê Văn Huy- Nguyễn Đăng Quang, tạp chí phát triển kinh tế số 278, trang 50- 64(2013). Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính xây dựng thang đo và định lượng nhằm kiểm định thang đo.
Kết quả nghiên cứu khẳng định thang đo chất lượng dịch vụ gồm 5 biến tiềm ẩn (1) quan tâm (2) hiệu quả (3) thông tin (4) Hiệu dụng (5) thích hợp. Từ đó đưa ra các hàm ý quản trị nhằm nâng cao. chất lượng dịch vụ và đáp ứng sự hài lòng của người bệnh. Nghiên cứu “Cai tiến thang đo SERVQUAL cho dịch vụ bệnh viện: nghiên cứu thực nghiệm” tác gid Emin Babakus và W.
Viynn Mangold, Health Services Research (February 1992): 767-786. Trong nghiên cứu tác giả đã dựa vào 5 phần của Parasuraman cải thiện cho phù hợp với dịch vụ bệnh viện gồm 5 thành phần (1) tin cậy (2) Đáp ứng (3) hữu hình (4) năng lực phục vụ (5) cảm thông tương ứng với 15 biến quan Sát. Cấu trúc và thang đo trên đã được nghiên cứu tại Mỹ, tác giả nghiên cứu với số lượng mẫu là 443, hệ số Cronbach Alpha của các nhân tố đều lớn hơn 0.7, phân tích nhân tố EFA và CFA cho thấy mô hình trên là phù hợp 6. Nghiên cứu “: The dimensions oƒ service quality for Hospitals: Development and use of the KOCAH scale Health Care Manage Rev “ cia Victor Sowerva cong su, 2001, 26(2), 47-59 Victor va céng su đã thực hiện nghiên cứu về chất lượng dịch vụ bệnh viện cơ sở nền tảng là thang đo JCAHO, nghiên cứu được thực hiện tại Mỹ với số lượng mẫu điều tra là 663 mẫu từ 3 bệnh viện khac nhau: Huntsville Memorial ở Texas (205 mẫu), New York (71 miu), Pottsvilla và Warne Clinic 6 Pennsylvania (387 mẫu).
Từ nghiên cứu, Victor va cong su da dé nghị thang đo đánh giá chất lượng dịch vụ cho bệnh viện còn 08 biến tiềm an, 75 biến quan sát và được đặt lại tên với tên gọi sau đây: (1) Quan tâm và chăm sóc; (2) Hiệu quả và liên tục; (3) Sự thích hợp; (4) Thông tin; (5) Hiệu dụng; (6) Bữa ăn; (7) Án tượng đầu tiên; (§) Nhân viên đa dạng. Nghiên cứu “Chất lượng dịch vụ cảm nhận và sự hài lòng của bệnh nhân: nghiên cứu dịch vụ bệnh viện tại các nước phát triển”, Andaleeb, S., 2001 “Trong nghiên cứu này tác giả đã đề nghị rằng chất lượng dịch vụ gồm 5 thành phần là: (1) Đáp ứng (responsiveness), (2) Đảm bảo (assumrance), (3) Giao tiếp (comunication), (4) Qui tắc ứng xử (discipline), và (5) Sự giúp đỡ (baksheesh). Dựa vào tổng quan tài liệu trên đây, có thể thấy rằng vấn đề nghiên cứu. của đề tài là không mới.
Tuy nhiên, tại Bệnh viện Thiện Hạnh là BV tư nhân, vấn đề chất lượng khám chữa bệnh và làm hài lòng bệnh nhân đang là mục tiêu đặt ra hàng đầu nhằm nâng cao chất lượng phục vụ cho người bệnh. Nhận diện chất lượng dịch vụ theo quan diém của người bệnh là rất cần thiết, phản ứng của họ có thể giúp cho bệnh viện nhìn nhận tốt hơn về hoạt động cung cấp dịch vụ. Hiện tại Bệnh viện chưa có nghiên cứu nào về chất lượng. dịch vụ khám chữa bệnh để ban lãnh đạo hoạch định các chính sách thích hợp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh.
Vì vậy, đề tài này sẽ góp phần cung cấp một cái nhìn đầy đủ hơn về chất lượng dịch vụ y tế của Bệnh viện Nói chung, rất nhiều nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến lĩnh vực chất lượng dịch vụ y tế và sự hài lòng của bệnh nhân đều cho rằng chất lượng. dịch vụ là một cấu trúc đa thành phần, trong đó thang đo SERVPERF thường. được sử dụng như một chuẩn dé do lường. Bên cạnh đó, chất lượng dịch vụ cũng là nhân tố quan trọng nhất giải thích cho sự hài lòng của bệnh nhân.
Vì vậy, đề tài này vận dụng thang đo SERVPERF làm cơ sở để đo lường chất lượng dịch vụ y tế tại Bệnh viện Đa khoa Thiện Hạnh. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN VE CHAT LƯỢNG DỊCH VỤ Y TE 1. Định nghĩa Dịch vụ là một khái niệm phô biến nên có rất nhiều cách định nghĩa khác. Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong marketing và kinh doanh.
Valarie va Mary (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. “Dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi các hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình, nhưng không cần thiết, diễn ra trong các mối tương tác giữa khách hàng và nhânn viên dịch vụ hoặc các nguồn lực vật chất hoặc hàng hóa hoặc các hệ thống cung ứng dịch vụ được cung cấp như là một giải pháp các vấn đề của khách hàng”- gronroos, 1990, dẫn theo Paul Lawrence Miner, 1998. Theo Kotler & Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, cũng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. Đặc tính của dịch vụ a.
Tinh vo hinh Không giống như những sản phẩm vật chất, dịch vụ không thể nhìn thấy được, không nếm được, không nghe thấy được, hay không ngửi thấy được trước khi người ta mua chúng. Đề giảm bớt mức độ không chắc chắn, người mu sẽ tìm kiếm các dấu hiệu hay bằng chứng về chất lượng dịch vụ. 10 Họ sẽ suy diễn chất lượng từ địa điểm, trang thiết bị, con người, tai liệu, thông tin, biểu tượng, giá cả mà họ thấy. Với lý do là vô hình nên công ty cảm thấy khó khăn trong việc nhận thức như thế nào về dịch vụ và đánh giá chất lượng dịch vụ.
Sản phẩm dịch vụ là vô hình nên khó có thể xác định được các đặc tính và các thông số kỹ thuật bằng định lượng và thông qua đó tiêu chuẩn cho việc sản xuất nhằm đảm bảo chất lượng. Tính không đồng nhất Đặc tính này còn gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thưc hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ. Việc đòi hỏi chất lượng đồng nhất từ đội ngũ nhân viên sẽ rất khó đảm bảo (Carauna& Pitt, 1997).
Lý do là những gì công ty dự định phục vụ thì có thể hoàn toàn khác với những gì mà người tiêu dùng nhận được. Tính không thể tách rời Tinh không thể tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó phân chia hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuát và giai đoạn sử dụng. dịch ụ thường được tạo ra và sử dụng đồng thời. điều này không đúng với hàng hóa vật chắt, phân phối qua nhiều khâu trung gian mua bán rồi sau đó mới tiêu dùng.
với sản phâm hàng hóa khách hàng chỉ sử dụng ở giai đoạn cuối cùng, còn đối với dịch vụ, khách hàng đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ. Đối với dịch vụ có hàm lượng lao động cao, ví dụ như chất lượng xảy ra trong quá trình chuyển giao dịch vụ thì chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình tương tác của khách hàng và nhân viên cung cắp dich vu (Svensson, 2002) d. Tinh không thể cất trữ Khác với hàng hóa, dịch vụ không thể dự trữ được. Co sở cung cắp dịch 1I vụ vẫn tổn tại nhưng dịch vụ không tồn tại khi không có khách hàng.
Tính không dự trữ được của “dịch vụ” có nghĩa “ dịch vụ” không thể tồn trữ trong kho. Nếu một “dịch vụ” không được sử dụng khi nó đang “có sẵn” thì tiềm năng của “dịch vụ” sẽ bị lăng phí. Đặc tính này của dịch vụ có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng khi có yêu cầu dịch vụ không được đáp ứng kịp thời. CHÁT LƯỢNG DỊCH VỤ 1.
Khái lệm về chất lượng dịch vụ Ch lượng dịch vụ là vấn đề được các nhà quản lý quan tâm nhiều trong. thời buổi kinh doanh hiện nay. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ, nhưng nhìn chung người ta định nghĩa chất lượng dịch vụ là những gì mà khách hàng cảm nhận được.