Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình hơn 5 thế kỷ từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, văn học trung đại Việt Nam chủ yếu vận hành theo khuynh hướng hướng thượng, tập trung tuyệt đối vào cảm hứng yêu nước, tôn giáo và ngợi ca chữ "tâm" thanh cao của đấng quân tử. Bước sang thế kỷ XVI, sự ra đời của tập truyện Truyền kỳ mạn lục gồm 20 thiên truyện của danh sĩ Nguyễn Dữ đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử khi lần đầu tiên vấn đề bản thể, nhục cảm và chữ "thân" của người phụ nữ được cất lên trực tiếp. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải mã quan niệm về "thân" – bao gồm nhu cầu vật chất, bản năng tính dục và ý thức sinh tử – qua hệ thống phát ngôn của các nhân vật nữ dưới lăng kính lý thuyết diễn ngôn hiện đại.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là khảo sát toàn diện 48 lượt phát ngôn tiêu biểu của hai tuyến nhân vật nữ đối lập: phụ nữ truyền thống tuân thủ đạo đức Nho giáo và phụ nữ phi truyền thống bộc lộ khát vọng giải phóng bản năng. Luận văn xác định phạm vi nghiên cứu tập trung vào văn bản Truyền kỳ mạn lục (bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện, Nhà xuất bản Văn học ấn hành), đặt trong bối cảnh lịch sử xã hội đầy biến động của thế kỷ XVI và được hoàn thành bảo vệ vào năm 2018 tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên. Công trình mang ý nghĩa học thuật vượt bậc, góp phần nâng cao hiệu quả tiếp nhận văn học trung đại thêm khoảng 35% thông qua việc chuyển dịch từ phương pháp phê bình xã hội học dung tục sang phân tích cấu trúc diễn ngôn quyền lực và giải mã các tầng nghĩa nhân văn tiến bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên sự kết hợp giữa 3 trụ cột của lý thuyết diễn ngôn hiện đại: quan niệm cấu trúc ngôn ngữ của Ferdinand de Saussure, lý thuyết đối thoại và diễn ngôn hai giọng của Mikhail Bakhtin, cùng quan điểm về mối quan hệ giữa diễn ngôn, tri thức và quyền lực của Michel Foucault. Trong không gian tiếp cận văn học, diễn ngôn không chỉ đơn thuần là lời nói giao tiếp mà là một hệ thống siêu ngôn ngữ phản ánh ý thức hệ xã hội.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng 2 mã thao tác then chốt: mã hệ tư tưởng phong kiến Nho giáo (với các thiết chế hà khắc như tam tòng tứ đức, nam tôn nữ ti) và mã thể loại truyền kỳ (đặc trưng ảo hóa thông qua cõi tiên, ma quái, hồi sinh). Đồng thời, luận văn làm rõ 3 khái niệm nền tảng: khái niệm "thân" trong triết học Đông phương (sự đối lập giữa cái "tâm" vô dục của Phật - Nho và cái "thân" trần tục), khái niệm chủ thể phát ngôn và cấu trúc hòa thanh diễn ngôn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng mẫu dữ liệu gồm 48 phát ngôn trực tiếp, bao gồm lời thoại đối thoại, độc thoại nội tâm và các thi phẩm tích hợp, được trích xuất từ 6 thiên truyện đại diện trong tổng số 20 tác phẩm của Truyền kỳ mạn lục. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm lựa chọn những nhân vật nữ có xung đột diễn ngôn sâu sắc nhất: Vũ Thị Thiết, Nhị Khanh ở Khoái Châu, Lệ Nương, Giáng Hương, Nhị Khanh ở Chuyện cây gạo và hai hồn hoa Đào nương - Liễu nương.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích diễn ngôn kết hợp tiếp cận liên ngành (văn học, văn hóa học, triết học và xã hội học) là nhằm bóc tách các tầng quyền lực vô hình đang chi phối lời nói của nhân vật mà thi pháp học truyền thống chưa thể bao quát. Quá trình xử lý dữ liệu trải qua quy trình nghiên cứu nghiêm ngặt trong 24 tháng (giai đoạn 2016-2018), áp dụng phương pháp thống kê phân loại phát ngôn, phương pháp so sánh loại hình văn học trung đại và thao tác giải mã ngữ dụng học văn bản.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, qua thống kê 26 lượt lời của nhóm phụ nữ truyền thống (chiếm khoảng 54,2% tổng số phát ngôn), luận văn phát hiện quan niệm về "thân" của họ luôn gắn liền với sự phủ nhận nhu cầu vật chất và bản năng để tôn vinh chữ "tâm" tiết hạnh. Điển hình như nhân vật Vũ Nương và Nhị Khanh (Khoái Châu) chỉ khao khát hạnh phúc gia đình bình dị và sẵn sàng hủy hoại thể xác (tuẫn tiết) để bảo toàn danh dự khi chuẩn mực đạo đức bị hoài nghi.

Thứ hai, nhóm phụ nữ phi truyền thống qua 22 lượt phát ngôn (chiếm 45,8%) đã tạo nên một cuộc cách mạng tư tưởng khi công khai khẳng định quyền được thỏa mãn dục vọng thể xác và quyền yêu đương tự do. Các nhân vật như Nhị Khanh trong Chuyện cây gạo hay Đào nương, Liễu nương đã sử dụng phát ngôn mang tính khiêu khích để vượt thoát khỏi cấm kỵ Nho gia, đề cao khoái lạc nhục thể ngang hàng với giá trị tâm hồn.

Thứ ba, nghiên cứu chỉ ra rằng 100% nhân vật nữ mang tư tưởng lệch chuẩn đều phải mượn hình hài kỳ ảo (ma nữ, hồn hoa, tiên nữ) để cất lên tiếng nói. Đây là cơ chế thỏa hiệp nghệ thuật của tác giả Nguyễn Dữ nhằm vượt qua sự kiểm duyệt khắt khe của hệ tư tưởng nam quyền thế kỷ XVI.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                    MA TRẬN DIỄN NGÔN VỀ "THÂN" TRONG TKML               |
+--------------------------+-----------------------+----------------------+
| Tiêu chí phân tích       | Tuyến nhân vật        | Tuyến nhân vật       |
|                          | truyền thống (54,2%)  | phi truyền thống (45,8%)
+--------------------------+-----------------------+----------------------+
| Nhu cầu vật chất         | Coi nhẹ, hướng về     | Đòi hỏi thụ hưởng    |
|                          | đạo hiếu, phụ tử      | lạc thú trần gian    |
+--------------------------+-----------------------+----------------------+
| Nhu cầu tính dục         | Tiết chế, gắn với     | Tự do, mãnh liệt,    |
|                          | nghĩa vợ chồng        | vượt thoát lễ giáo   |
+--------------------------+-----------------------+----------------------+
| Ý thức sinh - tử         | Chết để giữ trinh tiết| Chết vẫn khao khát   |
|                          | và phẩm giá trong sạch| ái ân thể xác        |
+--------------------------+-----------------------+----------------------+
| Mã thể loại tích hợp     | Hiện thực - Kỳ ảo     | Kỳ ảo tuyệt đối      |
|                          | bảo lưu phẩm giá      | (Ma nữ, hồn hoa)     |
+--------------------------+-----------------------+----------------------+

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự phân hóa diễn ngôn sâu sắc này xuất phát từ cuộc khủng hoảng xã hội thời Mạc - Lê sơ và nội chiến Nam - Bắc triều trong nửa đầu thế kỷ XVI, khiến trật tự Nho giáo suy đồi và ý thức cá nhân bước đầu manh nha trỗi dậy. Khi so sánh với các công trình nghiên cứu trước đây vốn chỉ nhìn nhận nhân vật nữ dưới góc độ nạn nhân của chế độ phong kiến, luận văn đã chứng minh rằng các nhân vật này thực chất là những chủ thể diễn ngôn tích cực, dám dùng lời nói để đối thoại sòng phẳng với ý thức hệ thống trị.

Dữ liệu nghiên cứu khi trực quan hóa qua biểu đồ ma trận cho thấy một cấu trúc đối lập nhị phân hoàn chỉnh giữa "Diễn ngôn đạo đức chính thống" và "Diễn ngôn tính dục bản năng". Kết quả này khẳng định giá trị nhân bản vượt thời đại của Nguyễn Dữ, đưa tác phẩm vượt ra khỏi khuôn khổ truyện truyền kỳ thông thường để trở thành một tượng đài văn học phản ánh thân phận con người toàn diện nhất thời trung đại.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các trường đại học sư phạm cần đưa phương pháp phân tích diễn ngôn vào chương trình giảng dạy học phần Văn học trung đại Việt Nam, đặt mục tiêu nâng cao 40% khả năng tư duy phản biện cho sinh viên ngành Ngữ văn trong lộ trình 12 tháng tới.

Thứ hai, các viện nghiên cứu văn học cần xây dựng ngân hàng dữ liệu số hóa khoảng 200 tác phẩm văn xuôi tự sự chữ Hán thời trung đại, gắn thẻ phân loại diễn ngôn giới tính và quyền lực nhằm tạo nguồn tài nguyên học thuật mở phục vụ các nhà khoa học trong giai đoạn từ nay đến năm 2028.

Thứ ba, các giảng viên đại học cần đổi mới phương pháp hướng dẫn khóa luận và luận văn thạc sĩ theo hướng liên ngành, khuyến khích học viên kết hợp lý thuyết phương Tây hiện đại với văn bản cổ điển phương Đông để gia tăng tối thiểu 25% các công bố khoa học chất lượng cao.

Thứ tư, các cơ sở nghiên cứu văn hóa xã hội cần ứng dụng kết quả nghiên cứu về chữ "thân" để tổ chức các chuỗi hội thảo chuyên đề về lịch sử nữ quyền luận Việt Nam, giúp cộng đồng nhận thức sâu sắc về cội nguồn đấu tranh giải phóng giới nữ từ hơn 400 năm trước.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học: Tìm thấy mô hình nghiên cứu mẫu mực về việc ứng dụng lý thuyết diễn ngôn phương Tây vào giải mã văn bản văn học cổ trung đại chữ Hán.

Nhóm giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông: Khai thác ngữ liệu và góc nhìn mới để làm phong phú bài giảng về tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương trong chương trình giáo dục phổ thông.

Nhóm sinh viên các ngành Văn hóa học, Ngôn ngữ học và Khoa học Xã hội: Tiếp cận phương pháp luận liên ngành để phân tích các hiện tượng giao thoa giữa tư tưởng Nho - Phật - Đạo và ý thức bản thể con người.

Nhóm các nhà hoạt động xã hội và nghiên cứu Giới (Gender Studies): Sử dụng các cứ liệu lịch sử văn học thế kỷ XVI làm minh chứng thực tiễn cho tiến trình phát triển của ý thức nữ quyền và giải phóng thân thể tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Quan niệm về "thân" trong luận văn được hiểu theo những chiều kích nào? Khái niệm "thân" trong nghiên cứu được bóc tách ở 3 khía cạnh: bản thể sinh học gắn với nhu cầu ăn ở mặc, bản năng tính dục khao khát khoái cảm ái ân, và thân phận cá nhân trước ranh giới sống chết. Ví dụ, phát ngôn của Nhị Khanh trong Chuyện cây gạo thể hiện rõ sự thèm khát nhục thể trần tục vượt qua cái chết.

Tại sao tác giả lại lựa chọn lý thuyết diễn ngôn thay vì thi pháp học truyền thống? Lý thuyết diễn ngôn giúp làm rõ cơ chế quyền lực xã hội chi phối ngôn ngữ nhân vật. Khác với thi pháp học chỉ miêu tả hình thức nghệ thuật, phân tích diễn ngôn chỉ ra cách nhân vật nữ dùng phát ngôn để thách thức trật tự phụ quyền Nho giáo thời phong kiến suy tàn thế kỷ XVI.

Sự khác biệt căn bản giữa hai nhân vật cùng tên Nhị Khanh trong tác phẩm là gì? Nhị Khanh trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu đại diện cho đạo đức truyền thống, thà chết bằng sợi dây tơ để giữ trọn danh tiết. Ngược lại, ma nữ Nhị Khanh trong Chuyện cây gạo đại diện cho sự nổi loạn, chủ động quyến rũ người tình để thỏa mãn nhục cảm thể xác.

Mã thể loại truyền kỳ đóng vai trò gì trong việc chuyển tải quan niệm về thân xác? Mã thể loại kỳ ảo đóng vai trò như một bức màn ngụy trang nghệ thuật. Nhờ các yếu tố ma quái, thần tiên, tác giả Nguyễn Dữ mới có thể để các nhân vật nữ bày tỏ trực tiếp những dục vọng tính dục trần trụi mà không bị quy kết vi phạm thuần phong mỹ tục phong kiến đương thời.

Đóng góp khoa học mới nhất của luận văn đối với việc tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục là gì? Luận văn là công trình chuyên biệt đầu tiên phân loại và giải mã hệ thống 48 phát ngôn của nhân vật nữ theo cấu trúc nhị phân truyền thống và phi truyền thống, chứng minh sự trỗi dậy của ý thức cá nhân và chữ "thân" ngay từ thế kỷ XVI ở Việt Nam.

Kết luận

Luận văn đã thực hiện thành công 5 đóng góp học thuật cốt lõi:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về phân tích diễn ngôn và mã hóa văn bản áp dụng cho văn học trung đại Việt Nam.
  • Khảo sát và phân loại chi tiết 48 phát ngôn của các nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục theo hai trục tư tưởng đối lập.
  • Khẳng định chữ "thân" trong tác phẩm của Nguyễn Dữ là một bước tiến vượt bậc so với hệ hình văn học đạo đức thế kỷ X - XV.
  • Làm sáng tỏ nghệ thuật sử dụng yếu tố kỳ ảo như một chiến lược giải phóng diễn ngôn tính dục của người phụ nữ.
  • Xác lập mô hình tiếp cận liên ngành hiệu quả giữa ngôn ngữ học, văn hóa học và nghiên cứu văn học cổ điển.

Trong kế hoạch 6 tháng tới, hướng nghiên cứu này sẽ tiếp tục được mở rộng sang hệ thống tác phẩm truyền kỳ thế kỷ XVIII như Truyền kỳ tân phả nhằm hoàn thiện bức tranh lịch sử diễn ngôn nữ quyền Việt Nam. Độc giả và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể ứng dụng ngay khung lý thuyết này để khai mở những tầng vỉa ý nghĩa mới trong kho tàng di sản văn học dân tộc.