CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Cơ sở lý luận về quản lý vốn ngân sách nhà nước 1. Vốn ngân sách nhà nước Vốn ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản tiền nhà nước có trên tài khoản của ngân sách nhà nước các cấp. Vốn ngân sách nhà nước là nguồn vốn thuộc quyền quản lý của nhà nước các cấp.
Vốn ngân sách nhà nước gồm vốn ngân sách Trung ương và vốn ngân sách địa phương. Vốn ngân sách được hình thành từ vốn tích luỹ của nền kinh tế và được nhà nước duy trì trong kế hoạch ngân sách để cấp cho các đơn vị thực hiện các kế hoạch. Nhà nước hàng năm, kế họach 5 năm và kế hoạch dài hạn. Đối với cấp hành chính là huyện, thị xã thì việc nhận vốn ngân sách cho đầu tư bao gồm vốn đầu tư của nhà nước cấp thông qua sở Tài chính, vốn ngân sách của Tỉnh.
Là nguồn vốn được huy động chủ yếu từ nguồn thu thuế và các loại phí, lệ phí. Các địa phương cấp huyện, Thị xã đối với nguồn vốn này là rất quan trọng, nhất là đối với những địa phương nghèo, nguồn thu cho ngân sách địa phương ít. Vốn hỗ trợ một phần như: chi để lập các dự án, các quy hoạch cần thiết để nhân dân và các tổ chức kinh tế khác đưa vốn vào đầu tư phát triển. Hoặc vốn ngân sách hỗ trợ một phần làm đường ngõ xóm, trường học, nhà trẻ.
phần còn lại cộng đồng dân cư tự đóng góp và quản lý sử dụng. Hình thức này được sử dụng phổ biến ở các nước đặc biệt trong việc tham gia của nhân dân vào các dự án dịch vụ và hạ tầng đô thị mới với các hình thức tài trợ xen kẽ, hợp vốn công - tư. Nguồn vốn ngân sách nói chung được tập hợp từ các nguồn vốn trên địa bàn như: 9 - Vốn ngân sách Trung ương cân đối hoặc uỷ quyền qua Ngân sách địa phương (Xây dựng cơ bản tập trung, thiết bị nước ngoài ghi thu ghi chi, vốn chương trình quốc gia .) - Vốn ngân sách từ các nguồn thu của địa phương được giữ lại (cấp quyền sử dụng đất, bán nhà thuộc sở hữu nhà nước, xổ số. ) - Vốn ngân sách sự nghiệp có tính chất XDCB.
Quản lý ngân sách nhà nước Quản lý, theo nghĩa chung nhất, là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Quản lý là một hoạt động có tính chất phố biến, mọi nơi, mọi lúc, trong mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và liên quan đến mọi người. Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác làm một công việc để đạt được mục tiêu chung. Quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý.
Quản lý ngân sách nhà nước là hoạt động của các chủ thể quản lý ngân sách nhà nước thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các công cụ quản lý để tác động và điều khiển hoạt động của ngân sách Nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu đã định. Vai trò, nguyên tắc quản lý vốn NSNN 1. Vai trò quản lý vốn NSNN Quản lý vốn NSNN có vai trò to lớn đối với quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, một địa phương. Sự gia tăng vốn và sử dụng chúng một cách hiệu quả, sẽ tác động rất lớn đến tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
10 Quản lý vốn NSNN thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế nông thôn. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, con đường tất yếu có thể tăng trưởng nhanh là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở khu vực công nghiệp và dịch vụ nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế. Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển. Như chúng ta đã biết, cơ sở hạ tầng là rất quan trọng, là tiền đề để thúc đẩy các lĩnh vực đầu tư của các ngành và cũng là tiền đề để phát triển kinh tế xã hội nói chung, ví dụ: như giao thông, cơ sở hạ tầng thuận lợi thì sẽ kích thích giao thương kinh tế - văn hóa giữa các vùng, từ đó làm tiền đề cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ.
Quản lý vốn NSNN, góp phần phát triển con người và giải quyết vấn đề xã hội. Chi đầu tư NSNN đầu tư cho giáo dục, y tế, văn hóa cũng là một dạng đầu tư - đầu tư vốn con người, lĩnh vực đầu tư này cũng nhằm tăng cường năng lực sản xuất cho tương lai của nền kinh tế, vì khi con người được trang bị kiến thức tốt hơn, dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngày càng nâng cao, luyện tập thể dục thể thao thường xuyên… thì sẽ làm việc hiệu quả hơn, năng suất lao động sẽ cao hơn. Đồng thời tạo ra tăng trưởng kinh tế và bản thân tăng trưởng kinh tế tác động trực tiếp đến việc góp phần giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, giảm khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, thực hiện đền ơn đáp nghĩa, bảo hiểm xã hội và các hoạt động từ thiện khác. 11 Quản lý vốn NSNN tạo tiền đề và điều kiện để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư khác.
Quản lý vốn NSNN là công cụ kinh tế quan trọng để nhà nước trực tiếp tác động điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Chi đầu tư xây dựng từ NSNN được coi là "vốn mồi" để thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước, là hạt nhân thúc đẩy xã hội hoá đầu tư, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Nguyên tắc quản lý vốn NSNN Việc quản lý, thanh toán vốn đầu tư các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước đảm bảo đúng mục đích, đúng đối tượng, tiết kiệm, hiệu quả và chấp hành đúng quy định về quản lý tài chính đầu tư và xây dựng của pháp luật. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng vốn đúng mục đích, đúng đối tượng, tiết kiệm và có hiệu quả.
Chấp hành đúng quy định của pháp luật về chế độ quản lý tài chính đầu tư. Cơ quan cấp trên của chủ đầu tư có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc các chủ đầu tư hoặc Ban quản lý dự án (sau đây gọi chung là chủ đầu tư) thuộc phạm vi quản lý thực hiện kế hoạch đầu tư, sử dụng vốn đầu tư đúng mục đích, đúng chế độ nhà nước. Cơ quan Tài chính các cấp thực hiện công tác quản lý tài chính vốn đầu tư về việc chấp hành chế độ, chính sách tài chính đầu tư, tình hình quản lý, sử dụng vốn đầu tư, tình hình thanh toán vốn đầu tư theo quy định của pháp luật hiện hành. Cơ quan Kho bạc nhà nước có trách nhiệm kiểm soát, thanh toán vốn kịp thời, đầy đủ, đúng quy định cho các dự án khi có đủ điều kiện thanh toán vốn.
Những hạng mục đầu tư cho nông thôn mới: Mục tiêu chung của chương trình là xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện có kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lí, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; đồng thời đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao. Chương trình này gồm 11 nội dung: Quy hoạch xây dựng nông thôn mới; Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập; Giảm nghèo và an sinh xã hội; Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn; Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn; Phát triển y tể, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn; Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn; cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn; Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn. Ngân sách đầu tư nông thôn mới cụ thể hạng mục: 1: Quy hoạch; 2: Giao thông; 3: Thủy lợi; 4: Điện; 5: Trường học; 6: Cơ sở vật chất văn hóa; 7: Chợ; 8: Bưu điện; 9: Nhà ở dân cư; 10: thu nhập; 11: Tỷ lệ hộ nghèo; 12: Cơ cấu lao động; 13: Hình thức tổ chức sản xuất; 14: Giáo dục; 15: Y tế; 16: Văn hóa; 17: Môi trường; 18: Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững. Nội dung quản lý vốn NSNN xây dựng nông thôn mới 1.
Lập dự toán chi ngân sách nhà nước đầu tư xây dựng nông thôn mới tại địa phương Lập dự toán chi NSNN đầu tư xây dựng nông thôn mới ở địa phương nói riêng được tiến hành đồng thời với lập dự toán ngân sách nói chung do đó nó được lập trong sự cân đối tổng thể của NSNN của địa phương, vì vậy, lập dự toán chi NSNN ở địa phương có thể được áp dụng theo các phương pháp sau: 13 a) Phương pháp lập ngân sách theo khoản mục Trong phương thức này các khoản thu, chi ngân sách được khoản mục hóa. Những khoản mục này được chi tiết và phân định rõ số tiền cho mỗi cơ quan, đơn vị được hưởng là bao nhiêu, hoặc đối với mỗi tiểu mục cũng được xác định rõ là tiểu mục đó được chi là bao nhiêu. Việc quy định cụ thể các mức chi yêu cầu các đơn vị thụ hưởng ngân sách phải chi theo đúng khoản mục quy định và cần phải có chế giải trình với những yếu tố đầu vào.