phần mở đầu, kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của Quản lý nhà nƣớc về đất đai. - Chƣơng 2: Thực tiễn quản lý nhà nƣớc về đất đai trên địa bàn huyện Krông Păc, tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 2013 - 2017 - Chƣơng 3: Quan điểm, giải pháp tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về đất đai trên địa bàn huyện Krông Păc, tỉnh Đăk Lăk đến năm 2020. -10- e CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤT ĐAI 1. Những vấn đề chung về đất đai 1.
Khái niệm đất đai Trong quá trình phát triển, sự hình thành và phát triển của mọi mọi quốc gia, dân tộc đều đƣợc xây dựng trên nền tảng cơ bản là sử dụng đất đai. Luật đất đai năm 1993 ghi nhận: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công tình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng”. Nhƣ vậy, đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con ngƣời. Nói cách khác, không có đất sẽ không có sự sản xuất, phát triển cũng nhƣ không có sự tồn tại của chính con ngƣời.
Đất đai theo các nhà khoa học thì “đất” tƣơng đƣơng với từ “Soil” trong tiếng Anh, nó có nghĩa trùng với thổ hay thổ nhƣỡng bao hàm ý nghĩa về tính chất của nó. Còn “đất đai” tƣơng đƣơng với từ “Land” trong tiếng Anh, nó có nghĩa về phạm vi không gian của đất hay có thể hiểu là lãnh thổ. Tuy nhiên, khái niệm đầy đủ và phổ biến nhất đất đai hiện nay đƣợc hiểu là: “…Là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trƣờng sinh thái ngay trên và dƣới bề mặt đó nhƣ: khí hậu bề mặt, thổ nhƣỡng, dạng địa hình, mặt nƣớc, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nƣớc ngầm vá khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cƣ của con ngƣời, những kết quả của con ngƣời trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nƣớc hay hệ thống tiêu thoát nƣớc, đƣờng sá, nhà cửa.) (Nguyễn Đình Bồng, 2005), Nhƣ vậy, đất đai là một khoảng không gian có phạm vi theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm động -11- e thực vật, nƣớc mặt, nƣớc ngầm và tài nguyên khoáng sản trong lòng đất) theo chiều ngang - trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhƣỡng, địa hình, thủy văn cùng nhiều thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng nhƣ cuộc sống của xã hội loài ngƣời. Đất đai có tính cố định vị trí, không thể di chuyển đƣợc, tính cố định vị trí quyết định tính giới hạn về quy mô theo không gian và chịu sự chi phối của các yếu tố môi trƣờng nơi có đất.
Mặt khác, đất đai không giống các hàng hóa khác có thể sản sinh qua quá trình sản xuất do đó, đất đai là có hạn. Tuy nhiên, giá trị của đất đai ở các vị trí khác nhau lại không giống nhau. Đất đai ở đô thị có giá trị lớn hơn ở nông thôn và vùng sâu, vùng xa; đất đai ở những nơi tạo ra nguồn lợi lớn hơn, các điều kiện cơ sở hạ tầng hoàn thiện hơn sẽ có giá trị lớn hơn những đất đai có điều kiện kém hơn. Chính vì vậy, khi vị trí đất đai, điều kiện đất đai từ chỗ kém thuận lợi nếu các điều kiện xung quanh nó trở nên tốt hơn thì đất đó có giá trị hơn.
Đất đai là một tài sản không hao mòn theo thời gian và giá trị đất đai luôn có xu hƣớng tăng lên theo thời gian. Tóm lại, đất đai là loại tư liệu sản xuất có tính đa dạng phong phú tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng phù hợp với từng vùng địa lý, tính đa dạng phong phú của đất đai còn do khả năng của con người khi đầu tư vào đất. Do vậy, đất đai luôn quyết định khả năng phát triển của con người cũng như sự phát triển của một quốc gia, dân tộc khi quốc gia đó có chính sách quản lý và sử sụng đất đai hợp lý, khoa học. Vai trò của đất đai Đất đai đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của loài ngƣời.
Không có đất thì không có sản xuất cũng nhƣ không có sự tồn tại của con ngƣời. Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con ngƣời và các sinh vật khác trên trái đất. Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với -12- e loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp”. Việt Nam là một nƣớc đang phát triển, đi lên từ nông nghiệp nông thôn, do đó đất đao có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Việc sử dụng đất cho các mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trƣờng góp phần thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế thông qua các sản phẩm để cung ứng ra thị trƣờng nhằm ổn định an ninh lƣơng thực trong nƣớc và xuất khẩu. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi mục tiêu: “dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội dân chủ công bằng và văn minh” thì chính sách sử dụng và quản lý đất đai làm sao đạt hiệu quả cao nhất là vấn đề Nhà nƣớc luôn quan tâm. Để phát triển kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trƣờng thì việc sử dụng đất trong quá trình đổi mới ngày nay càng khẳng định vị trí quan trọng của nó. Trong đó đất đai và chính sách về quản lý và sử dụng đất ở từ sau khi đổi mới đến nay đã góp phần dân chủ hóa đời sống kinh tế- xã hội ở nông thôn cũng nhƣ ở thành thị.
Cùng với chính sách khuyến ngƣời dân sản xuất hàng hóa, việc coi trọng kinh tế hộ gia đình đã tạo cơ sở thúc đẩy quá trìnhsử dụng đất có hiệu quả hơn, phù hợp tình hình mới, nhất là việc đẩy nhanh quá trình ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào sản kinh doanh. Với việc tạo cơ sở pháp lý và những điều kiện cần thiết cho việc phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó việc sử dụng đất đai cho các mục tiêu phát triển nhƣ chính sách khuyển khích nông dân “dồn điền đổi thửa”, khuyến khích hộ gia đình sản xuất chuyên canh, góp phần thúc đẩy phân công lao động trong nông nghiệp, tạo nhiều ngành nghề mới thu hút lao động, giải quyết việc làm ở nông thôn. Bên cạnh đó, hình thức giao đất, cho thuê đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng với thời hạn 50, 70 năm không chỉ giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp mà còn tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận thị trƣờng vốn nhờ thế chấp quyền sở hữu đất, giúp nông dân tăng cƣờng tiếp thu khoa học kỹ -13- e thuật tiên tiến vào sản xuất kinh doanh thông qua các hình thức liên doanh, liên kết. Như vậy, đất đai trong quá trình đổi mới và hội nhập của đất nước đã có những tác động tích cực và toàn diện đến phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Quản lý nhà nƣớc về đất đai 1. Những vấn đề chung về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai 1. Khái niệm quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về đất đai Quản lý nhà nƣớc là thuật ngữ chỉ “Sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước, bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện những chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước” Xuất phát từ vai trò hết sức quan trọng và ý nghĩa to lớn của đất đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài ngƣời, việc quản lý đất đai là hết sức cần thiết. Quản lý Nhà nƣớc đối với đất đai vừa đảm bảo khai thác tốt tiềm năng đất đai với vai trò là một nguồn lực, vừa đảm bảo mục tiêu giữ gìn môi trƣờng sống cho toàn xã hội.
- Trong hoạt động Quản lý Nhà nƣớc về đất đai, Nhà nƣớc bằng quyền lực của bộ máy nhà nƣớc duy trì tác động có mục đích và có định hƣớng lên đối tƣợng quản lý đất đai cả về mặt quản lý của các cơ quan quản lý nhà nƣớc về đất đai và cả việc sử dụng đất đai của các chủ thể sử dụng đất. Tại Điều 5 của Luật đất đai năm 2003 khẳng định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc đại diện chủ sở hữu”. Đến Luật đất đai năm 2013 thì lại khẳng định thêm một lần nữa: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013 (Điều 4 của Luật đất đai năm 2013).
- Nhà nƣớc thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai nhƣ sau: -14- e + Quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; + Quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất; + Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; + Định giá đất. + Nhà nƣớc thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua chính sách tài chính về đất đai nhƣ sau: Thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; Thu thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; Điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tƣ của ngƣời sử dụng đất mang lại. + Nhà nƣớc trao quyền sử dụng đất cho ngƣời sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với ngƣời đang sử dụng đất ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất. + Nhà nƣớc có chính sách đầu tƣ cho việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý bảo đảm quản lý đất đai có hiệu lực và hiệu quả.