Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Đào tạo nghề Theo Mục 1, Điều 5 Luật Dạynghề thì đào tạo nghề đƣợc hiểu: “là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học, tức là đạt đƣợc các tiêu chuẩn kỹ năng nghề quy định về mức độ thực hiện và yêu cầu kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có để thực hiện các công việc của một nghề”[45, tr. Ngày 27 tháng 11 năm 2014, Luật giáo dục nghề nghiệp đƣợc Quốc Hội thông qua thì khái niệm về Đào tạo nghề đƣợc đổi thành cụm từ “đào tạo nghề nghiệp” và theo khoản 2, Điều 3 Luật giáo dục nghề nghiệp.
Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp. Nhƣ vậy, đào tạo nghề là hoạt động trang bị năng lực (tri thức, kỹ năng và thái độ) hành nghề cho ngƣời lao động để ngƣời lao động có thể tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm. Quản lý nhà nước về đào tạo nghề Một số nhà nghiên cứu hành chính, luật pháp cho rằng: Theo các tác giả của “1200 thuật ngữ pháp lý Việt Nam” quan niệm: QLNN là hoạt động của Nhà nƣớc trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tƣ pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nƣớc[48]. Luan van 8 Các tác giả của Đề tài “Nội dung và phƣơng thức hoạt động của bộ máy nhà nƣớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” đã đƣa ra khái niệm về QLNN nhƣ sau: “QLNN là hoạt động có tổ chức bằng pháp quyền của bộ máy nhà nƣớc (công quyền) điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của công dân và mọi tổ chức xã hội, chính trị, khoa học, văn hóa – xã hội nhằm giữ gìn thể chế chính trị, trật tự xã hội và phát triển xã hội theo những mục tiêu đã định”.
Trong cuốn sách “Đo lƣờng và đánh giá hiệu quả quản lý HCNN. Nguyễn Đăng Thành quan niệmQuản lý nhà nƣớc:là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nƣớc và sử dụng pháp luật nhà nƣớc để điều chỉnh hành vi hoạt động của con ngƣời trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc thực hiện nhằm thỏa mãn yêu cầu hợp pháp của con ngƣời, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Trong “Giáo trình Lý luận hành chính nhà nƣớc do PGS.Nguyễn Hữu Hải chủ biên, Tr.2” có viết: Quản lý nhà nƣớc xuất hiện cùng với nhà nƣớc, là quản lý công việc của nhà nƣớc (là sự quản lý của nhà nƣớc đối với xã hội và công dân). Nội hàm của quản lý nhà nƣớc thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử.
Ngày nay, quản lý nhà nƣớc xét về mặt chức năng bao gồm hoạt động lập pháp, hoạt động hành chính (chấp hành và điều hành) và hoạt động tƣ pháp. Từ các khái niệm về QLNN đã nêu, có thể hiểu QLNN về đào tạo nghề nhƣ sau: Quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề: Là sự tác động có tổ chức và điều hành bằng quyền lực nhà nƣớc đối với các hoạt động đào tạo nghề, do các cơ quan quản lý đào tạo nghề của nhà nƣớc từ trung ƣơng đến cơ sở tiến hành để Luan van 9 thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nƣớc ủy quyền nhằm phát triển sự nghiệp đào tạo nghề, duy trì trật tự, kỷ cƣơng, thỏa mãn nhu cầu đƣợc đào tạo nghề của lao động xã hội và thực hiện mục tiêu phát triển sự nghiệp đào tạo nghề của Nhà nƣớc. Quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề mang tính quyền lực nhà nƣớc, lấy pháp luật làm công cụ quản lý là chủ yếu nhằm tạo lập và phát triển đƣợc nguồn lực quyết định nhất cho sự phát triển, đó là nguồn lực con ngƣời đƣợc đào tạo nghề đáp ứng cho yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do đó, quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề có vai trò to lớn và việc thƣờng xuyên hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lƣợc phát triển giáo dục - đào tạo và đào tạo nghề nghiệp của quốc gia.
Lao động nông thôn: Theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tƣớng chính phủ thì lao động nông thôn là ngƣời trong độ tuổi lao động, có nghề phù hợp với khu vực nông thôn, gồm có: - Ngƣời lao động có hộ khẩu thƣờng trú tại xã. - Ngƣời lao động có hộ khẩu thƣờng trú tại phƣờng, thị trấn đang trực tiếp làm nông nghiệp hoặc gia đình có đất nông nghiệp mới bị thu hồi. Nhƣ vậy, lao động nông thôn là những ngƣời đang sống và làm việc tại các phƣờng, xã, đã và đang làm các nghề liên quan đến nông thôn, nông nghiệp. Tuy nhiên do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lƣợng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những ngƣời trong độ tuổi lao động mà còn có những ngƣời trên hoặc dƣới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp với mình.Từ khái niệm nguồn lao Luan van 10 động ở nông thôn mà ta thấy lao động ở nông thôn rất dồi dào, nhƣng đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm ở nông thôn.
Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn Quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề cho lao động nông thônlà sự tác động, điều chỉnh thƣờng xuyên của nhà nƣớc bằng quyền lực nhà nƣớc đối với toàn bộ hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn của một quốc gia nhằm định hƣớng, thiết lập trật tự kỷ cƣơng của hoạt động đào tạo nghề cho ngƣời lao động, hƣớng đến mục tiêu và yêu cầu của sự phát triển nguồn nhân lực của quốc gia. Đối tƣợng đào tạo nghề lao động nông thôn:Theo quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nƣớc đƣợc quy định tại Điểm 1 và 2 tại Mục II, Đề án 1956, đối tƣợng đào tạo nghề cho lao động nông thôn bao gồm các nhóm đối tƣợng sau: Lao động nông thôn trong độ tuổi lao động, có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học. Trong đó ƣu tiên dạy nghề cho các đối tƣợng là ngƣời thuộc diện đƣợc hƣởng chính sách ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo, dân tộc thiểu số, ngƣời tàn tật, ngƣời bị thu hồi đất canh tác. Nội dung cơ bản của Quản lý Nhà nƣớc về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1.Quản lý hoạt động hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển dạy nghề Hoạch định chiến lƣợc là quá trình nghiên cứu một cách có hệ thống, đòi hỏi sự tham gia của mọi thành viên không chỉ trong ngành đào tạo nghề mà còn có sự tham gia của các chuyên gia ngành khác.Chính sáchlà những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đƣờng lối, nhiệm vụ; đƣợc thực hiện trong một Luan van 11 thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể.
Bản chất, nội dung và phƣơng hƣớng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đƣờng lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội…Muốn hoạch định chính sách đúng và triển khi có hiệu quả phải căn cứ vào tình hình thực tế trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, căn cứ vào mục tiêu chung và vận dụng linh hoạt trên cơ sở có sự điều chỉnh cho phù hợp tình hình thực tế. Xây dựng kế hoạch, quy hoạch là hƣớng vào mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra cho sự nghiệp đào tạo nghề, đồng thời hoạch định các chính sách và cơ chế quản lý nhằm hƣớng vào các chƣơng trình, kế hoạch đó. Kế hoạch là thực hiện những nhiệm vụ cụ thể trên cơ sở sử dụng các nguồn nhân, vật lực nhằm đảm bảo hoàn thành mực tiêu, trong đó quy định rõ phải làm gì? Làm nhƣ thế nào và tổ chức, cá nhân nào thực hiện?.Đây là dự án tổng thể các mục tiêu kinh tế - xã hội ở tầm vi mô hay vĩ mô đƣợc thể hiện thành các chỉ tiêu chung của nền kinh tế quốc dân hay của các ngành, các đơn vị lãnh thổ, hay đơn vị cơ sở, cùng các chính sách, các biện pháp chủ yếu tƣơng ứng bảo đảm việc thực hiện kế hoạch. Quy hoạch là sự phân bố và sắp xếp các hoạt động và các yếu tố sản xuất, dịch vụ và đời sống trên một địa bàn lãnh thổ (quốc gia, vùng, tỉnh, huyện…) cho một thời kỳ trung hạn, dài hạn (có chia các giai đoạn) để cụ thể hóa chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội trên lãnh thổ, theo thời gian và là cơ sở để lập các kế hoạch phát triển.
Quản lý việc ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về đào tạo nghề Để quản lý và điều tiết thống nhất toàn bộ hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên phạm vi cả nƣớc, tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động đào tạo nghề của các CSDN, những nội dung quan trọng mà pháp luật Nhà nƣớc điều chỉnh trong hoạt động đào tạo nghề là: Luan van 12 Cơ cấu khung hệ thống đào tạo nghề, hệ thống văn bằng, chứng chỉ. Quy định pháp luật này hiện nay đƣợc thống nhất thực hiện theo Luật Dạy nghề đã đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2007; Nghị định 139/2006/NĐ-CP ngày 20/11/2006 Chính phủ quy định chi tiết hƣớng dẫn thi hành một số điều Luật Giáo dục và Bộ luật Lao động về dạy nghề.