phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục làm 3 chương, cụ thể như sau: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nước về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Đồng Nai Chƣơng 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Đồng Nai đến năm 2025. 6 e CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QLNN VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. Các khái niệm liên quan đến doanh nghiệp FDI và thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Khái niệm về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và doanh nghiệp FDI Theo quy định tại Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1987: “Đầu tư ngước ngoài” là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của Luật này” [22].
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài” nguyên gốc tiếng Anh là: “Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI). Tổ chức Thương mại thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty" [46]. Theo Luật Đầu tư năm 2005 (đã hết hiệu lực) phân loại: “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành 7 e lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại” [23]. Luật Đầu tư năm 2014 không đề cập trực tiếp loại hình doanh nghiệp này mà chỉ định nghĩa một cách khái quát tại Khoản 17 Điều 3 Luật Đầu tư 2014 như sau: “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông” [24]. Như vậy, theo quy định này, đối chiếu với khái niệm doanh nghiệp FDI theo định nghĩa tiếng Anh, pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nước ta ở một phạm vi rộng hơn (tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Do đó, trong phạm vi này, ta có thể hiểu một cách cơ bản, doanh nghiệp FDI là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn của bên nước ngoài góp là bao nhiêu. Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài bao gồm: Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh giữa nước ngoài và các đối tác trong nước. Đặc điểm của doanh nghiệp FDI Doanh nghiệp FDI thiết lập quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư tới nơi được đầu tư; đồng thời, thiết lập quyền sở hữu với quyền quản lý đối các nguồn vốn đã được đầu tư. Bên cạnh đó, vốn FDI cũng có thể xem là sự mở rộng thị trường của các doanh nghiệp, tổ chức đa quốc gia; thể hiện quyền chuyển giao công nghệ, kỹ thuật của nhà đầu tư với nước bản địa.
Nó luôn luôn có sự gắn liền của nhiều thị trường tài chính và thương mại quốc tế. 8 e Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014, các doanh nghiệp FDI sẽ được thành lập theo các loại hình doanh nghiệp như: Công ty TNHH 1 thành viên, công ty TNHH 2 thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp danh. Vai trò của doanh nghiệp FDI Sau 30 năm đổi mới và mở cửa cùng với việc thu hút vốn FDI, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia thu hút FDI thành công nhất trong khu vực; khu vực FDI cũng trở thành thành phần quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Có thể nói doanh nghiệp FDI có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của đất nước ta trong thời gian qua và trong tương lai.
Một là, nguồn vốn FDI bổ sung cho nguồn vốn trong nước, đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế. Mức đóng góp của khu vực này ngày càng tăng từ 9,3% năm 1995 lên 19,6% năm 2017 (chiếm 23,7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chiếm trên 72% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp, trên 17% tổng thu ngân sách nhà nước). Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 8/2018, cả nước có hơn 26.500 dự án FDI với tổng vốn đăng ký hơn 334 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 184 tỷ USD. Đầu tư nước ngoài đã đóng góp gần 20% GDP và là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển với tỉ trọng khoảng 23,7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Hai là, doanh nghiệp FDI góp phần vào việc tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý, thúc đẩy chuyển giao công nghệ. Trong hơn 30 năm qua, nhiều dự án đầu tư nước ngoài đã chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến ở một số ngành, lĩnh vực; tác động lan tỏa nhất định tới khu vực doanh nghiệp trong nước, góp phần nâng cao trình độ công nghệ và quản trị của nền kinh tế. 9 e Nhiều dự án lớn đã mang lại bước đột phá, đóng góp vào nguồn thu ngân sách cho nhiều địa phương. Ba là, doanh nghiệp FDI tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Đầu tư nước ngoài cũng tạo thuận lợi cho Việt Nam mở rộng thị trường quốc tế, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, từng bước tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, góp phần cân bằng cán cân thương mại, giảm áp lực tỷ giá và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Bốn là, doanh nghiệp FDI giúp tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân lực chất lượng cao, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực. Việc làm trực tiếp trong khu vực đầu tư nước ngoài đã tăng từ 330 nghìn người vào năm 1995 lên khoảng 3,6 triệu người năm 2017, đồng thời tạo việc làm gián tiếp cho khoảng 5 - 6 triệu lao động. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp FDI cũng là những đơn vị tiên phong trong đào tạo, nâng cao trình độ và tác phong công nghiệp của đội ngũ công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ quản lý; ở một số doanh nghiệp cho thấy, nhiều vị trí việc làm trước đây do chuyên gia nước ngoài đảm nhận, nay đã được thay thế bằng lao động Việt Nam.
Năm là, doanh nghiệp FDI cũng góp phần vào việc thúc đẩy phát triển ngành dịch vụ chất lượng cao ở Việt Nam như tài chính - ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, vận tải biển, logistics, giáo dục - đào tạo, y tế, du lịch… Đồng thời, đây còn là nhân tố góp phần chuyển đổi không gian phát triển, hình thành các khu đô thị mới, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế… Sáu là, hoạt động của doanh nghiệp FDI giúp mang lại nguồn thu ngân sách lớn, điều này thể hiện qua số thu nộp ngân sách của khu vực đầu tư nước ngoài tăng đều qua các năm và đạt hơn 8 tỷ USD trong năm 2017, chiếm 17,1% tổng thu ngân sách nhà nước. Các loại hình doanh nghiệp FDI Doanh nghiệp FDI bao gồm các loại hình sau: Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; Doanh nghiệp Việt Nam có các đối tác là nhà đầu tư nước ngoài; Doanh nghiệp chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam. Khái niệm thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài “Thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài” là việc sử dụng các giải pháp, biện pháp khác nhau do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhằm kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư tại lãnh thổ, địa bàn theo định hướng của Nhà nước. Quản lý nhà nƣớc về thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1.
Khái niệm QLNN về thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Theo Giáo trình Lý luận Hành chính Nhà nước của Học viện Hành chính Quốc gia, Nhà xuất bản Hà Nội năm 2010, khái niệm quản lý nhà nước thể hiện như sau: “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì ổn định và phát triển của xã hội” [19, tr 3] QLNN về thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước bằng nhiều biện pháp khác nhau tới việc thu hút nguồn vốn FDI trên cơ sở pháp luật nhằm đạt được các mục tiêu của nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội. Sự cần thiết phải QLNN về thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Thứ nhất, xuất phát từ chức năng của Nhà nước quản lý chung tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội; thông qua các công cụ quản lý vi mô như 11 e hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách và tổ chức bộ máy… Nhà nước thực hiện việc định hướng và quản lý việc thu hút ĐTNN nhằm mục đích phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp với việc đảm bảo quốc phòng – an ninh, duy trì sự phát triển bền vững. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng hiện nay, cơ hội và khả năng huy động vốn đầu tư FDI của các quốc gia trên thế giới là như nhau.