Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động mại dâm là một vấn đề xã hội phức tạp, đe dọa trực tiếp đến thuần phong mỹ tục, trật tự an toàn xã hội và làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh trong cộng đồng. Theo số liệu thống kê toàn quốc, cả nước có 11.240 người bán dâm có hồ sơ quản lý, trong đó khu vực Đông Nam Bộ chiếm 3.200 người và Đồng bằng sông Hồng chiếm 3.673 người. Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, các cơ quan y tế ước tính có khoảng 20.000 phụ nữ hoạt động mại dâm, cùng khoảng 1/3 trong tổng số 52.000 người thuộc nhóm nguy cơ cao đối mặt với tình trạng nghiện ma túy gắn liền với mua bán dâm.

Trước bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng, huyện Bình Chánh với diện tích tự nhiên 25.255,29 ha (chiếm 12% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh) và quy mô dân số lên tới 705.000 người vào năm 2019, đang chịu áp lực lớn về quản lý trật tự xã hội tại 16 xã, thị trấn. Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về phòng, chống mại dâm trên địa bàn huyện Bình Chánh trong giai đoạn 2013 - 2019, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện cho giai đoạn 2020 - 2025.

Mục tiêu nghiên cứu bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hành chính trong lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội; phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng thi hành pháp luật tại địa phương; chỉ rõ những bất cập trong phân cấp quản lý và đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm nâng cao hiệu lực quản lý của Ủy ban nhân dân cấp huyện, góp phần kiểm soát hơn 12.000 doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm, đồng thời đảm bảo an sinh xã hội cho người dân ven đô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết quản lý hành chính nhà nước và lý thuyết kiểm soát xã hội về trật tự an toàn công cộng. Quản lý nhà nước về phòng, chống mại dâm được tiếp cận dưới góc độ là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan công quyền, sử dụng quyền lực nhà nước cùng hệ thống công cụ pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh.

Bốn khái niệm nền tảng được làm rõ gồm:

  1. Quản lý nhà nước về phòng, chống mại dâm: Hệ thống các biện pháp chính trị, pháp lý, kinh tế, giáo dục nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý vi phạm.
  2. Hành vi mua dâm và bán dâm: Được xác định theo Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm năm 2003, gắn liền với việc giao cấu để nhận tiền hoặc lợi ích vật chất.
  3. Cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ phát sinh tệ nạn: Các loại hình nhà hàng, khách sạn, quán bar, massage, karaoke có nguy cơ bị lợi dụng để tổ chức hoạt động kích dục, mại dâm.
  4. Tái hòa nhập cộng đồng và trợ giúp xã hội: Quá trình hỗ trợ y tế, đào tạo nghề, tạo việc làm theo Quyết định 29/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm giảm thiểu nguy cơ tái phạm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo tổng kết định kỳ của Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh, Công an huyện, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội từ năm 2013 đến năm 2019, kết hợp với các văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ hồ sơ quản lý hành chính đối với 1.293 hộ kinh doanh cá thể thành lập mới và 2.388 doanh nghiệp đăng ký trong năm 2019, cùng dữ liệu theo dõi địa bàn tại 16 xã, thị trấn. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu mục đích đối với các xã có tốc độ đô thị hóa nhanh và mật độ dân cư cao như xã Bình Hưng và xã Vĩnh Lộc A (với hơn 124.000 dân) để làm rõ tính chất trọng điểm.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích tài liệu, thống kê mô tả và so sánh pháp luật là nhằm đối chiếu các quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP, Bộ luật Hình sự năm 2015 với tình hình xử lý vi phạm thực tế. Quá trình xử lý dữ liệu kéo dài trong 2 năm nghiên cứu chuyên sâu (2018 - 2020), đảm bảo tính khách quan và khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, áp lực từ tốc độ tăng trưởng kinh tế 20,7% và sự gia tăng dân số cơ học khiến công tác kiểm soát địa bàn gặp nhiều thách thức. Với tổng giá trị sản xuất năm 2019 đạt 56.636,340 tỷ đồng, số lượng cơ sở kinh doanh dịch vụ có điều kiện tăng nhanh. Sự phát triển này tạo điều kiện cho các tụ điểm mại dâm biến tướng núp bóng dưới hình thức quán cà phê giải khát, dịch vụ xoa bóp, nhà nghỉ dọc các tuyến Quốc lộ 1A và Quốc lộ 50.

Thứ hai, phương thức hoạt động của các đối tượng chuyển đổi mạnh mẽ từ công khai sang tinh vi, sử dụng mạng xã hội và dịch vụ viễn thông để kết nối. Theo ước tính thực tế, hơn 70% các vụ việc bị phát hiện có sự tham gia của các đường dây môi giới khép kín, liên kết giữa nhiều địa bàn giáp ranh như huyện Bến Lức, huyện Cần Giuộc của tỉnh Long An với huyện Bình Chánh.

Thứ ba, hiệu lực xử lý vi phạm hành chính còn nhiều hạn chế do chế tài chưa đủ sức răn đe. Mức phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi bán dâm và 500.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi mua dâm theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP là quá thấp so với lợi nhuận thu được, dẫn đến tỷ lệ tái phạm trong thực tế duy trì ở mức khoảng 40%.

Thứ tư, chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tiếp cận nguồn vốn còn gặp rào cản tâm lý. Mặc dù tỷ lệ lao động có việc làm toàn huyện đạt 96,86% và tỷ lệ qua đào tạo đạt 89,59%, nhưng số lượng người bán dâm hoàn lương tiếp cận được nguồn vốn vay ưu đãi để tái hòa nhập chỉ đạt dưới 10% do mặc cảm xã hội và thủ tục xét duyệt còn công khai danh tính.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của các hạn chế trên xuất phát từ sự bất cập trong hệ thống pháp luật hiện hành và sự phối hợp liên ngành chưa đồng bộ. Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm năm 2003 đã bộc lộ nhiều điểm không còn phù hợp với thực tiễn khi Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 bãi bỏ biện pháp đưa người bán dâm vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc nhưng chưa có cơ chế quản lý thay thế hiệu quả.

Khi so sánh với các nghiên cứu tại địa bàn nội thành Thành phố Hồ Chí Minh, đặc thù của huyện Bình Chánh là địa bàn vùng ven rộng lớn với 25.255 ha, giáp ranh nhiều tỉnh lộ, tạo điều kiện thuận lợi cho tội phạm chứa mại dâm (quy định tại Điều 327 Bộ luật Hình sự) và môi giới mại dâm (Điều 328 Bộ luật Hình sự) lẩn trốn.

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua bảng đối chiếu kết quả kiểm tra liên ngành của Đội 2 qua từng năm và biểu đồ cột phản ánh sự thay đổi cơ cấu các vụ vi phạm bị xử lý hình sự so với xử lý hành chính. Kết quả này khẳng định yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi mô hình từ can thiệp hành chính thuần túy sang quản lý kết hợp giảm hại và an sinh xã hội.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý về quản lý hành chính: Kiến nghị Quốc hội và các cơ quan Trung ương sớm xây dựng, ban hành Luật Phòng, chống mại dâm thay thế Pháp lệnh năm 2003 trước năm 2023. Nội dung cần điều chỉnh tăng mức phạt tiền vi phạm hành chính lên gấp 3 đến 5 lần đối với hành vi mua dâm và cung cấp địa điểm hoạt động mại dâm, đồng thời bổ sung chế tài xử lý các hành vi kích dục trực tuyến.

Thứ hai, tăng cường hiệu lực kiểm tra liên ngành: Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh chỉ đạo Đội Kiểm tra Liên ngành Văn hóa - Xã hội nâng tần suất kiểm tra đột xuất tại 100% các cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm, đặt mục tiêu triệt xóa 100% các tụ điểm phức tạp phát sinh mới trên các tuyến Quốc lộ 1A và Tỉnh lộ 10 trong giai đoạn 2021 - 2025.

Thứ ba, đổi mới công tác tuyên truyền và hỗ trợ tái hòa nhập: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện triển khai gói tín dụng theo Quyết định 29/2014/QĐ-TTg, bảo mật thông tin người vay vốn, phấn đấu đạt mục tiêu trên 75% người hoàn lương có việc làm ổn định, góp phần cùng huyện giảm tỷ lệ hộ nghèo bền vững trên 1,15% mỗi năm.

Thứ tư, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị địa bàn: Thiết lập cơ sở dữ liệu số hóa liên thông giữa Công an huyện Bình Chánh và các quận, huyện giáp ranh thuộc Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An trước năm 2024. Mục tiêu là quản lý 100% thông tin đăng ký lưu trú tại hơn 12.256 doanh nghiệp, nhà nghỉ và cơ sở lưu trú trên địa bàn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý nhà nước tại Ủy ban nhân dân các cấp: Cung cấp góc nhìn thực tiễn và căn cứ khoa học để xây dựng kế hoạch quản lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ có điều kiện tại địa bàn đô thị hóa nhanh.
  2. Lực lượng Công an và Thanh tra chuyên ngành: Tài liệu hỗ trợ nghiệp vụ điều tra, thống kê, kiểm tra liên ngành và xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự và Luật Xử lý vi phạm hành chính.
  3. Giảng viên, học viên chuyên ngành Luật và Quản lý công: Nguồn tư liệu tham khảo giá trị với 16 đơn vị hành chính thực nghiệm, phục vụ công tác giảng dạy môn Luật Hành chính, Tội phạm học và Xã hội học pháp luật.
  4. Chuyên gia công tác xã hội và hoạch định chính sách: Dữ liệu thực chứng về hơn 20.000 trường hợp liên quan tại Thành phố Hồ Chí Minh giúp xây dựng các chương trình can thiệp giảm hại, đào tạo nghề và chống kỳ thị đối với người yếu thế.

Câu hỏi thường gặp

  1. Điểm đặc thù trong quản lý nhà nước về phòng, chống mại dâm tại huyện Bình Chánh là gì? Huyện Bình Chánh có diện tích rộng 25.255,29 ha, giáp ranh tỉnh Long An và có tốc độ tăng dân số cơ học cao (đạt 705.000 người năm 2019). Đặc điểm này khiến các cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm dễ biến tướng, đòi hỏi cơ chế phối hợp liên vùng chặt chẽ hơn khu vực nội thành.

  2. Mức xử phạt hành chính đối với hành vi mua dâm hiện nay được quy định như thế nào? Theo Điều 22 Nghị định 167/2013/NĐ-CP, hành vi mua dâm bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng; trường hợp mua dâm nhiều người cùng lúc bị phạt từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, kèm hình thức phạt bổ sung theo quy định pháp luật.

  3. Khung hình phạt đối với tội chứa mại dâm theo quy định hiện hành là bao nhiêu? Theo Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015, người phạm tội chứa mại dâm bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với khung cơ bản; các trường hợp định khung tăng nặng có thể bị phạt tù từ 05 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

  4. Tại sao người bán dâm khó tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ việc làm theo Quyết định 29/2014/QĐ-TTg? Nguyên nhân chủ yếu do tâm lý tự ti, lo ngại bị lộ danh tính khi làm thủ tục hành chính tại địa phương. Ngoài ra, việc xác nhận đối tượng hoàn lương tại cấp xã còn rườm rà, khiến tỷ lệ tiếp cận nguồn vốn vay thực tế đạt dưới 10%.

  5. Đội Kiểm tra Liên ngành Văn hóa - Xã hội có quyền hạn gì trong công tác phòng chống mại dâm? Đội kiểm tra liên ngành có quyền kiểm tra đột xuất việc chấp hành quy định pháp luật tại hơn 1.200 cơ sở kinh doanh dịch vụ, lập biên bản vi phạm hành chính, đề xuất Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định xử phạt hoặc chuyển cơ quan điều tra nếu có dấu hiệu tội phạm.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ hệ thống lý luận quản lý nhà nước về phòng, chống mại dâm trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và đô thị hóa nhanh.
  • Phân tích thực trạng quản lý tại huyện Bình Chánh giai đoạn 2013 - 2019 với quy mô 705.000 dân và 16 xã, thị trấn, chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến hiệu quả quản lý chưa tương xứng.
  • Khẳng định tính cấp thiết của việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, nâng cao mức xử phạt hành chính và chuyển đổi mô hình hỗ trợ an sinh xã hội.
  • Đề xuất lộ trình hành động cụ thể cho giai đoạn 2020 - 2025 gắn liền với trách nhiệm của Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh và các cơ quan liên ngành.
  • Đóng góp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn phong phú, thúc đẩy các nhà quản lý và nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện chính sách kiểm soát tệ nạn xã hội tại Việt Nam.