Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Chương 3: Phương hướng, giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA 1. Khái quát quản lý nhà nƣớc về hoạt động văn hóa 1.
Khái niệm cơ bản văn hóa, quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về văn hóa.TSKH Trần Ngọc Thêm, từ Văn hóa có nhiều nghĩa, được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau. Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng suy cho cùng khái niệm “Văn hóa” có thể quy về hai cách hiểu chính theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng: Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian.giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật. Giới hạn theo chiều rộng, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh. Giới hạn theo không gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị của từng vùng (Văn hóa Tây Nguyên, Văn hóa Nam Bộ.
Giới hạn theo thời gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn. Theo nghĩa rộng, văn hóa được xem là bao gồm tất cả các lý do con người sáng tạo ra. Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người 7 đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn” [27 tr. Theo Federico Mayor Tổng Giám đốc UNESCO, cho biết “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong lĩnh vực tư duy và sáng tạo. Đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với những dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất chó đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về những chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise” [42].
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì “Văn hóa là giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử” [43]; nền văn hóa các dân tộc, kho tàng văn hóa các dân tộc; Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa, chú ý đời sống văn hóa của nhân dân; Tri thức khoa học, trình độ học vấn: trình độ văn hóa, học các môn văn hóa; Lối sống, cách ứng xử có trình độ cao: người có văn hóa, gia đình văn hóa. Nền văn hóa một thời kỳ lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ các di vật được tìm lại có những đặc điểm chung: Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa rìu hai vai… Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. * Quản lý nhà nước Quản lý là một trong những hoạt động vừa khó khăn, phức tạp; vừa là một nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển xã hội. Khi xử dụng thuật ngữ này, tùy theo cách tiếp cận, góc độ, quan điểm nghiên cứu 8 khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý.
Theo Hán Việt từ điển định nghĩa quản lý là: “Quản lý là sự trông nom, coi sóc, giữ gìn các công việc” [1 tr. Tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể”[3]. Quản lý thường được hiểu là sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý. Sự tác động này không mang tính đơn lẻ tự phát mà mang tính tổ chức, có mục đích rõ ràng.
Mục đích mà chủ thể quản lý đặt ra là hướng đối tượng quản lý hoạt động phù hợp với ý chí của mình. Từ đó, có thể đưa ra khái niệm về quản lý: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã được đặt ra”. Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước. Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt.
Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng: Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội của Nhà nước, sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do tất cả các cơ quan Nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) tiến hành để thực hiện các chức năng của Nhà nước đối với xã hội. Nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang quyền lực Nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, UBND các cấp). Như vậy, có thể đưa ra khái niệm quản lý nhà nước: “Là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật 9 nhà nước để điều chỉnh các hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội”. * Hoạt động văn hóa Hoạt động văn hóa là một trong những lĩnh vực được xem là một trong những vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của mỗi một quốc gia.
Đó là một dạng hoạt động xã hội quan trọng, có tính sáng tạo, có thể làm ra các sản phẩm văn hóa mang giá trị lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm giàu đẹp thêm cho cuộc sống con người. Hoạt động văn hóa còn là hoạt động tư tưởng, có khả năng gây “hiệu ứng” có tính lan tỏa trong xã hội. Hoạt động văn hóa còn là hoạt động kinh tế vừa là động lực, vừa là nguồn lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế. Chính vì tính đa năng của hoạt động văn hóa, nên quản lý trên lĩnh vực văn hóa mang tính đặc thù.
Tính đặc thù của quản lý hoạt động văn hóa không những thể hiện trong từng lĩnh vực cụ thể của đời sống văn hóa, mà nó còn thể hiện ở công tác quản lý nhà nước về văn hóa ở các cấp, từ vĩ mô đến các đơn vị cơ sở. * Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa Quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hóa là sự tác động liên tục có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình, nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp KTXH, tổ chức kĩ thuật và các biện pháp khác nhằm mục đích giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đặc điểm quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa Khác với quản lý nhà nước trên các lĩnh vực khác với ý nghĩa là sự định hướng lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá trên lĩnh vực văn hóa, quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa còn có một số đặc điểm riêng biệt sau đây: Thứ nhất, chủ thể quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa là Nhà nước, quản lý bằng pháp luật từ Trung ương đến địa phương với mục đích cuối cùng là quản lý tất cả các mặt của văn hóa một cách hài hòa, chuẩn mực và đúng đắn nhất. Thứ hai, quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa không thể đơn tuyến.
Văn hóa có cơ sở là KTXH, luôn luôn gắn liền với KTXH. KTXH của một quốc gia càng phát triển thì nền văn hóa cũng đứng trước những biến động ngay trong nội tại nền văn hóa dân tộc đó, cũng như những làn sóng tác động từ văn hóa nước ngoài. Do vậy, bắt buộc phương pháp, cách thức quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa phải thay đổi sao cho phù hợp với sự phát triển của nền KTXH. Thứ ba, “quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa khác với quản lý nhà nước về hoạt động kinh tế kỹ thuật, khi giá trị các hoạt động văn hóa không chỉ căn cứ ở số lượng thành phẩm, mà chủ yếu ở tính sáng tạo, ở cái mới vun đắp cho tâm hồn con người, giúp cho con người (trong những hoàn cảnh cụ thể, xác định) lớn lên, vươn lên trước sự đòi hỏi tính mới phát triển của xã hội hiện tại” [26 tr.
Thứ tư, quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa căn cứ vào những hoàn cảnh cụ thể, những trường hợp cụ thể để xem xét chứ không theo lối tư duy dập khuôn, cứng nhắc, bởi vì văn hóa là sự sáng tạo, lựa chọn, chọn lọc của quần chúng nhân dân được thực hiện thông qua các đại biểu của mình là văn nghệ sĩ.