Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC NGÀNH NGHỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN 1. Một số khái niệm 1. Kinh doanh có điều kiện, ngành nghề kinh doanh có điều kiện Căn cứ theo khoản 1 Điều 7 Luật Doanh nghiệp (DN) năm 2014 và khoản 1 Điều 5 Luật Đầu tư 2014 các cá nhân, tổ chức có quyền tự do kinh doanh trong tất cả các ngành, nghề và lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Ngay từ những điều đầu tiên trong hai đạo luật quan trọng về kinh doanh ở Việt Nam, nguyên tắc này đã được ghi nhận rõ ràng.
Nó là biểu hiện rõ nét một khía cạnh tự do kinh doanh mà Việt Nam theo đuổi: Quyền tự do lựa chọn lĩnh vực ngành nghề mà pháp luật không cấm. Theo khoản 2 và 5 Điều 7 Luật Doanh nghiệp 2014, thì: “Điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác”. “Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp không được quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh.” Tại khoản 1 Điều 7 Luật đầu tư 2014 có đưa ra khái niệm về “ Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện” là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Còn theo khoản 1 và 3 Điều 5 của Nghị định 139/NĐ-CP thì: “Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh áp dụng theo đúng 10 e các quy định của các luật, pháp lệnh, nghị định chuyên ngành hoặc quyết định có liên quan của Thủ tướng Chính phủ (sau đây chung là pháp luật chuyên ngành).
Các quy định về loại ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh đối với ngành nghề đó tại các văn bản quy phạm pháp luật khác ngoài các loại văn bản quy phạm pháp luật nói tại khoản 1 Điều này đều hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 09 năm 2008. Trên cơ sở đó, các ngành, nghề kinh doanh về cơ bản được chia thành ba nhóm: Các ngành, nghề kinh doanh bị cấm, ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và ngành, nghề được tự do kinh doanh. Có thể hiểu rằng, về điều kiện kinh doanh chính là các yêu cầu từ phía cơ quan quyền lực nhà nước buộc các DN phải có hoặc phải thực hiện được thể hiện cụ thể trên giấy phép kinh doanh (mã ngành, nghề), giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác. Khi cá nhân, tổ chức muốn đầu tư kinh doanh một ngành, nghề nào đó, trước hết cá nhân, tổ chức đó phải xác định ba vấn đề sau đây: ngành, nghề mình định kinh doanh có thuộc trường hợp bị cấm kinh doanh hay không; mình có đủ tư cách pháp lý để đầu tư kinh doanh hay không; ngành, nghề mình định đầu tư kinh doanh có phải là ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện hay không và nếu thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thì điều kiện cần phải đáp ứng là gì.
Như vậy, một ngành nghề kinh doanh có điều kiện được coi là “hợp pháp” chỉ khi cả tên ngành nghề và các điều kiện kinh doanh tương ứng của ngành, nghề đó được quy định tại Luật, Pháp lệnh, Nghị định hoặc Quyết định của Thủ tướng chính phủ. Các ngành nghề và điều kiện kinh doanh khác là không hợp pháp. Khái niệm quản lý nhà nước về kinh doanh có điều kiện Quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện nhiệm vụ chung nhằm hoàn thành mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp.
Xã hội càng phát triển dựa trên trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của phân công và hiệp tác lao động. Trình độ xã hội hóa càng cao, yêu cầu quản lý càng cao và vai trò của nó càng tăng lên. Tuy nhiên, quản lý với tư cách là một khoa học độc lập thì còn rất mới mẻ, như Laurence Lowell nhận xét: “quản lý là nghiệp xưa nhất và là nghề mới nhất”. Những tư tưởng về quản lý đó xuất hiện từ thời xa xưa, nhưng cho đến thế kỷ 18-19, dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện các công xưởng, máy móc ngày càng nhiều và phức tạp, quy mô sản xuất ngày càng lớn, lực lượng lao động ngày càng đông đòi hỏi các chủ xí nghiệp phải tìm cách tổ chức và quản lý xí nghiệp của mình và từ đó xuất hiện các trường phái quản lý.
Mỗi một học thuyết nghiên cứu tổ chức quản lý ở những giác độ khác nhau, trên cơ sở triết học và điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau. Chính vì vậy mà có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý, không có khái niệm nào được chấp nhận phổ biến. Tuy nhiên theo giáo trình Quản lý học của Học viện Hành chính Quốc gia hiểu: quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định trước. Theo từ điển thuật ngữ hành chính nhà nước (Học viện chính trị quốc gia) thì: “Quản lý hành chính Nhà nước là toàn bộ hoạt động của cơ quan hành chính từ trung ương đến xã phường, thị trấn, dựa trên cơ sở những quy định của luật pháp do Nhà nước ban hành, có tính chất mệnh lệnh, nhằm thực hiện chức năng quản lý và điều hành của Nhà nước” Từ khái niệm này, về quản lý hành chính nhà nước đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong được hiểu như sau: “Quản lý nhà nước đối với 12 e các ngành nghề kinh doanh có điều kiện là toàn bộ hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, dựa trên những quy định của luật pháp do nhà nước ban hành, có tính chất mệnh lệnh, nhằm thực hiện chức năng quản lý và điều hành của Nhà nước trong lĩnh vực đó” Những ngành nghề kinh doanh có điều kiện mang tính nhạy cảm hơn, lợi nhuận cao hơn và cao hơn gấp nhiều lần so với cách hoạt động khác nên cần sự quản lý chặt chẽ của cơ quan nhà nước nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại, những tổn thất đến sức khỏe, tính mạng và tài sản của nhân dân, của doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề đó.
Những ngành nghề kinh doanh có điều kiện cơ bản là xăng dầu, chiết nạp và kinh doanh khí hóa lỏng, kinh doanh rượu nội ngoại nhập, kinh doanh thuốc lá sản xuất trong nước, kinh doanh karaoke,. Ngoài ra, còn có những ngành nghề kinh doanh có điều kiện khác như kinh doanh dấu nghiệp vụ giám định thương mại, nhượng quyền thương mại, quảng cáo thương mại, hội chợ triển lãm, khuyến mại và các hoạt động xúc tiến thương mại khác. Tầm quan trọng của kinh doanh có điều kiện Các ngành nghề kinh doanh có điều kiện đã đóng góp phần lớn vào phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Các ngành nghề này đóng góp 16,8% GDP và 23% vốn đầu tư toàn xã hội, tạo ra nhiều việc làm trong lĩnh vực kinh tế.
Tuy nhiên, hiện nay còn nhiều yếu tố gây khó khăn, hạn chế vai trò động lực của các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, do đó cần thực hiện một số giải pháp để các ngành nghề này thực sự phát triển một cách bền vững trong giai đoạn tới. Sự phát triển về thể chế đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong phát triển kinh tế huyện Gia Lâm đã có những bước chuyển biến rõ rệt. Đáng chú ý nhất là sự thay đổi quan điểm về vai trò các ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong các Nghị quyết của Đảng bộ huyện. Trong giai đoạn 13 e mới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” khẳng định vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân ngày càng được nhận thức rõ hơn và đánh giá đúng hơn.
Đến 2014, Luật Doanh nghiệp được thông qua (2014), tuy nhiên, sự phát triển của các ngành nghề kinh doanh có điều kiện vẫn rất chậm. Kể từ năm 2014, khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực, đã quy định rõ quyền của nhà nước, cán bộ, các nhà đầu tư cũng như doanh nghiệp nói chung và các ngành nghề kinh doanh có điều kiện nói riêng. Một điểm rất đáng lưu ý khác là quyền tự do kinh doanh được công nhận. Những chuyển biến tư duy quan trọng này đã góp phần làm tăng mạnh số các ngành nghề kinh doanh có điều kiện đăng ký mới.
Tiếp đó, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XII) về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã khẳng định: “Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển một nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Vai trò của kinh tế tư nhân trong đó có các ngành nghề kinh doanh có điều kiện được nâng lên, là một lĩnh vực không thể thiếu của cả nền kinh tế, bên cạnh kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, thay vì chỉ là một trong những động lực của nền kinh tế như trước đây. Từ những nền tảng pháp lý vững chắc, các ngành nghề kinh doanh có điều diện dần khẳng định chỗ đứng của mình trong phát triển kinh tế và được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Dù vậy, các ngành nghề kinh doanh có điều kiện vẫn còn có thể cải thiện, phát triển hơn nữa để đóng góp nhiều hơn cho kinh tế địa phương và trong cả nước.
Kể từ khi Luật Doanh nghiệp 2014 ra đời tháo gỡ những vướng mắc cho các doanh nghiệp kinh doanh các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, số lượng DN đăng ký thành lập mới đã tăng mạnh. Năm 2017, đánh dấu sự tăng 14 e trưởng nhanh về số lượng DN thành lập mới với khoảng 57 doanh nghiệp. Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân tăng 375 đồng (tăng 24,3% so với cùng kỳ 2016).