Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC THANH NIÊN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý và quản lý nhà nước Thuật ngữ “quản lý” có nhiều nghĩa khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt “quản lý” được hiểu dưới hai khía cạnh: một là, trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; hai là, tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [37, tr.
Theo sách gốc và nghĩa từ Việt thông dụng quản lý được hiểu là “trông nom, sửa sang, sắp đặt công việc” [37, tr. Như vậy, thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách diễn đạt khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận. Các nhà điều khiển học đưa ra quan niệm chung: “Quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy định nhất định” [19, tr. Tác giả cho rằng, “Quản lý là sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu thông qua các công cụ và phương pháp quản lý”.
Bản chất của hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thể hiện thông qua hoạt động lập quy và hành chính. Hoạt động lập quy thể hiện ở việc cụ thể hóa luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội. Hành chính là hoạt động chỉ đạo, quản lý của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý. Trong hoạt động này, chủ thể quản lý áp dụng các biện pháp tổ chức - pháp lý bằng việc ban hành các văn bản pháp quy và văn bản cá biệt.
Hoạt động lập quy và hành chính xuất phát từ đặc thù của hoạt động quản lý hành pháp nhằm thực hiện quyền lực nhà nước trong quản lý xã hội. Mỗi Nhà nước luôn gắn với một thiết chế xã hội nhất định theo phạm vi không gian và thời gian, do vậy đặc tính QLNN sẽ thay đổi tùy theo bản chất 10 e của chế độ chính trị và trình độ phát triển KT - XH ở mỗi quốc gia trong từng thời kỳ. So với hoạt động của các chủ thể khác trong xã hội, QLNN có những điểm khác biệt cơ bản sau đây: - Chủ thể QLNN là các cơ quan nhà nước và CBCC có thẩm quyền trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao. Những chủ thể này tham gia vào quá trình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước về lập pháp và hành pháp theo luật định.
- Đối tượng của QLNN bao gồm tất cả các tổ chức, cá nhân sinh sống và hoạt động sản xuất kinh tế, văn hóa, xã hội trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; các nguồn tài nguyên thiên nhiên và xã hội được khai thác sử dụng vào quá trình cung cấp các sản phẩm theo nhu cầu xã hội. - Mục tiêu QLNN là bảo đảm, bảo vệ sự ổn định và phát triển xã hội bền vững, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do. hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. - QLNN có tính toàn diện, bao gồm các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và ngoại giao, v.
- QLNN mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật, chính sách, kế hoạch để quản lý xã hội. Từ phân tích lý luận ở trên, tác giả đưa ra khái niệm: Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt và chủ yếu nhất, là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, các hành vi của cá nhân, tổ chức, có sức mạnh và hiệu lực do các cơ quan nhà nước, công chức trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ công, duy trì sự ổn định và phát triển bền vững xã hội. Khái niệm về thanh niên Theo Từ điển Tiếng Việt: “Thanh niên là người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành” [37, tr. Khái niệm này xác định thanh niên dưới 02 góc độ: sinh học (độ tuổi) và tâm lý, giáo dục (sự trưởng thành), không phân biệt thành phần dân tộc, tôn giáo, vùng miền.
Theo Luật Thanh niên “Thanh niên Việt Nam là những người đủ 16 đến 30 tuổi” [31, tr. Dưới góc độ nhà nghiên cứu, tác giả Vũ Trọng Kim cho rằng “Thanh niên là một nhóm nhân khẩu - xã hội đặc thù, bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định, có quan hệ gắn bó mật thiết với mọi giai cấp, tầng lớp xã hội, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, có vai trò to lớn trong hiện tại và giữ vai trò quyết định sự phát triển trong tương lai của xã hội” [23, tr. Khái niệm này tác giả đã chỉ ra vai trò của thanh niên đối với xã hội, khẳng định mặt xã hội của thanh niên khi có “quan hệ mật thiết với mọi giai cấp, tầng lớp xã hội”. Dưới góc độ tâm lý học, thanh niên là một độ tuổi, ở giữa lứa tuổi trẻ em và tuổi trưởng thành.
Ở giai đoạn này, sự phát triển về thể chất đạt đến đỉnh cao, các yếu tố tâm lý mới được định hình và ổn định một cách tương đối. Thanh niên có sự khác biệt lớn về nhiều mặt (tuổi, nơi sinh sống, nghề nghiệp…), các đặc điểm tâm lý của thanh niên rất phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, chúng có một tính rất chung, đó là tính trẻ. Tính trẻ được thể hiện ở sự năng động, nhiệt huyết, chấp nhận mạo hiểm, giàu ước mơ và hoài bão lớn, thích cái mới, thích giao lưu, học hỏi và mong muốn có những đóng góp cho xã hội để khẳng định bản thân.
Dưới góc độ chính trị, thanh niên được hiểu là lực lượng hậu bị của các đảng phái chính trị. Tại Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi công tác đoàn kết, tập hợp, giáo dục thanh niên đi theo lý tưởng của Đảng, là công tác có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Đảng ta xác định việc xây dựng Đoàn 12 e TNCS Hồ Chí Minh - tổ chức đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của thanh niên, là đội dự bị tin cậy của Đảng là một trong các nhân tố đảm bảo sự phát triển của Đảng và cách mạng Việt Nam. Từ phân tích lý luận ở trên, tác giả cho rằng: Thanh niên là một nhóm nhân khẩu, xã hội đặc thù, ở độ tuổi nhất định; có mặt trong tất cả các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội; có những đặc điểm đặc trưng chung về tâm lý, sinh lý, nhận thức xã hội và đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc trong cả hiện tại và tương lai.
Khác với một số đối tượng xã hội khác, thanh niên cần được hỗ trợ, định hướng, giáo dục để tự làm chủ bản thân, tham gia quản lý và đóng góp cho xã hội. Từ những khái niệm này có thể rút ra thanh niên Việt Nam có một số đặc điểm sau: Một là, thanh niên không phải là một giai cấp mà là một nhóm nhân khẩu, xã hội, một tầng lớp xã hội đặc thù; có độ tuổi nhất định từ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi; có những đặc điểm đặc trưng khác với các lứa tuổi khác về tâm lý, sinh lý; có tâm tư, nguyện vọng, có nhu cầu và hoài bão, khát vọng phù hợp với lứa tuổi và giới. Hai là, thanh niên có mặt trong tất cả các giai cấp và tầng lớp xã hội: Thanh niên nông thôn, thanh niên đô thị, thanh niên công nhân, thanh niên công chức - viên chức, thanh niên các lực lượng vũ trang, thanh niên trường học (học sinh, sinh viên); có mặt trong tất cả 54 dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam. Ba là, thanh niên có mặt và giữ vai trò quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước.
Khái niệm về công tác thanh niên Theo Từ điển Tiếng Việt, thì công tác là “công việc của nhà nước, của đoàn thể” hoặc “thực hiện công việc của nhà nước, của đoàn thể” [37, tr. Suy ra, công tác thanh niên là công việc của nhà nước, của đoàn thể liên quan đến thanh niên hoặc thực hiện công việc của nhà nước, của đoàn thể liên quan đến thanh niên. Tuy nhiên, cách hiểu như vậy đúng nhưng chưa phản ánh đầy đủ tính mục đích của công tác thanh niên. Tại Khoản 2, Điều 4 Nghị định 120/2007/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh niên (2005) giải thích: “Công tác thanh niên là những hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội nhằm giáo dục, bồi dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên phấn đấu và trưởng thành, đồng thời phát huy vai trò xung kích, sức sáng tạo và tiềm năng to lớn của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Như vậy, công tác thanh niên là một bộ phận quan trọng trong công tác quần chúng của Đảng, bao gồm toàn bộ những hoạt động của Đảng, nhà nước và các chủ thể xã hội khác, trong đó có Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam và Hội Sinh viên Việt Nam nhằm tác động một cách đồng bộ để bồi dưỡng, tổ chức, động viên thanh niên phát huy mọi tiềm năng và thế mạnh, tạo điều kiện cho thanh niên phát triển, cống hiến, trưởng thành vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Công tác thanh niên là một loại hoạt động xã hội, trong đó có QLNN hàm chứa sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các chủ thể xã hội và thanh niên, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu phát triển của thanh niên và yêu cầu phát triển của xã hội. Công tác thanh niên đồng thời là quá trình tạo ra môi trường kinh tế, văn hoá, xã hội và là trường học cộng sản cho thanh niên học tập, rèn luyện và trưởng thành; là quá trình đưa thanh niên vào hoạt động thực tiễn 14 e cách mạng, đồng thời là quá trình định hướng giúp thanh niên tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách của mình. Công tác thanh niên là một bộ phận quan trọng trong công tác quần chúng, bao gồm toàn bộ những hoạt động của Đảng, Nhà nước, Đoàn Thanh niên và xã hội nhằm giáo dục, bồi dưỡng và tạo điều kiện cho thanh niên phát triển, trưởng thành, phát huy mọi tiềm năng của lực lượng thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.