Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA QLNN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA S’TIÊNG 1. Một số khái khái niệm có liên quan 1. Bảo tồn và bảo tồn văn hóa *Bảo tồn Bảo tồn được hiểu là gìn giữ, bảo vệ những gì con người tạo ra và những gì của thế giới tự nhiên gắn bó với cuộc sống con người. Ví dụ: Bảo tồn lễ cưới truyền thống của dân tộc S‟tiêng.
Bảo tồn danh lam thắng cảnh. * Bảo tồn văn hóa Bảo tồn văn hóa được hiểu là gìn giữ, bảo vệ và lưu giữ di sản văn hóa do cộng đồng dân tộc tạo ra, hay những sự vật của tự nhiên gắn bó và hữu ích cho cuộc sống của con người. Ví dụ: Bảo tồn di sản văn hóa trống đồng Đông sơn. Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống.
Bảo tồn di sản văn hóa Phong Nha – Kẻ Bàng. Dân tộc, dân tộc thiểu số *Dân tộc Ở Việt Nam, khái niệm “dân tộc” được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng, “dân tộc” là một cộng đồng người cùng sinh sống trong một quốc gia, một lãnh thổ và cùng quốc tịch. Theo nghĩa này, “dân tộc” ứng với thuật ngữ “nation” (quốc gia) và dân tộc là một cộng đồng chính tri - xã hội được quản lý bởi một bộ máy nhà nước thiết lập trên một lãnh thổ nhất định.
Ví dụ: Dân tộc Việt Nam, Dân tộc Nga, Dân tộc Pháp… Theo nghĩa hẹp, định nghĩa sau đây về dân tộc do J.Stalin đưa ra trong 8 e các “Vấn đề dân tộc ở Liên Xô”: “Dân tộc là một cộng đồng người cùng chung ngôn ngữ, cùng chung lịch sử, cùng chung văn hóa và cùng chung tâm lý” (Dẫn theo: TS.Trương Văn Sinh – Đề cương bài giảng Quản lý nhà nuớc về dân tộc và tôn giáo, năm 1998). Theo chúng tôi đây là một định nghĩa khái quát, súc tích và đầy đủ hơn cả. Theo nghĩa này “ dân tộc” ứng với thuật ngữ “Ethnic”. Như vậy, theo J.Stalin có bốn yếu tố cấu thành dân tộc (theo nghĩa hẹp): ngôn ngữ, lịch sử, văn hóa và tâm lý.
Theo nghĩa hẹp, hiện nay ở nước ta có 53 dân tộc: dân tộc Việt (dân tộc Kinh), dân tộc Mường, dân tộc Tày, dân tộc Ê Đê, dân tộc Khmer,. Xin được nói thêm, thuật ngữ “Ethnic” có khi được dịch thành “sắc tộc” hay “tộc người”. * Dân tộc thiểu số Cũng là “dân tộc” theo nghĩa hẹp, để phân biệt với dân tộc Việt (dân tộc Kinh) có số lượng cư dân tuyệt đối lớn (87%) dân số cả nước. Để phân biệt dân tộc Việt (dân tộc Kinh) với các dân tộc còn lại người ta thêm vào sau từ “dân tộc” từ “thiểu số”.
Theo đó, các dân tộc Mường, Thái, Ê Đê, Khmer,.là dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong đời sống sử dụng ngôn ngữ hàng ngày, tên một số cơ quan, đơn vị dù không có từ “thiểu số” sau từ “dân tộc”, từ “dân tộc” lúc này ngầm hiểu là “dân tộc thiểu số”. Ví dụ: “Ủy ban Dân tộc Trung ương” là cơ quan ngang Bộ chuyên trách về dân tộc thiểu số. “Trường Dân tộc nội trú” được hiểu là trường nội trú dành cho học sinh dân tộc thiểu số.
“Giáo viên Dân tộc” được hiểu là giáo viên dân tộc thiểu số. Di sản, văn hóa, di sản văn hóa *Di sản Di sản là những sản phẩm về vật chất và tinh thần do các cộng đồng dân tộc sáng tạo và được lưu truyền qua nhiều thế hệ hoặc là những sự vật 9 e vốn có tự nhiên nhưng gắn bó với con người, thuộc sở hữu của cộng đồng. Ví dụ: Dân ca quan họ là di sản văn hóa của cộng đồng người Việt Bắc Bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc một di sản vô cùng quý báu.
Vịnh Hạ Long là một di sản thiên nhiên kỳ vĩ. *Văn hóa Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa. Các tác giả Từ điển tiếng Việt đã định nghĩa: “Văn hóa là toàn thể những thành tựu của loài người trong sản xuất, xã hội và tinh thần; Văn hóa là sự hiểu biết về sự vật hay về cách xử thể tích lũy bằng việc học tập có hệ thống hoặc thấm nhuần đạo đức và các phép tắc lịch sự; Văn hóa là văn minh” [Từ điển tiếng Việt, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh – nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới, cũng đã đưa ra định nghĩa về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn và ở và phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức cùng với biểu biện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn”. Văn hóa là tổng thể về những nét riêng biệt tinh thần, vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng.
Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tình, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý. Chính nhờ có văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết 10 e mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội bản thân”[Theo định nghĩa UNESCO 1982]. Những quan niệm nêu trên là những quan niệm rộng về văn hóa.
Văn hóa là tất cả những gì do con người sáng tạo ra hoặc tích lũy qua thời gian trải nghiệm từ thực tế cuộc sống, nhằm phục vụ cho nhu cầu của con người, của xã hội.Trần Ngọc Thêm đưa ra một định nghĩa văn hóa ngắn gọn hơn và thể hiện được mối quan hệ của con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội: “Văn hóa là môt hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội” [31,tr. Chúng tôi chấp thuận định nghĩa này. *Di sản văn hóa Luật Di sản văn hóa đã đưa ra định nghĩa về di sản văn hóa như sau: “Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác” [Luật Di sản văn hóa, Điều 1]. Theo phân loại của Unesco và Luật Di sản văn hóa, có hai loại di sản văn hóa: di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể.
Di sản văn hóa phi vật thể là “sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang 11 e phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác” [Luật Di sản văn hóa, Điều 4]. Di sản văn hóa vật thể là “sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”[Luật Di sản văn hóa, Điều 4]. Ngoài ra, xuất phát từ hai nghĩa rộng, hẹp của thuật ngữ “dân tộc” (xem 1.2), Di sản văn hóa có thể chia làm hai: Di sản văn hóa dân tộc theo nghĩa hẹp hay Di sản văn hóa dân tộc thiểu số là di sản văn hóa do các dân tộc (thiểu số) sáng tạo nên. Di sản văn hóa dân tộc (theo nghĩa quốc gia) là toàn bộ di sản văn hóa của tất cả các dân tộc trên đất nước Việt Nam.
Có thể khẳng định rằng, tất cả các dân tộc trên đất nước Việt Nam dù đồng dân hay ít dân, dù sinh sống lâu đời (dân bản địa) hay mới thiên di đến, đều có một kho tàng di sản văn hóa phong phú, đa dạng, đa sắc, góp phần tạo nên sự đa dạng về loại hình, phong phú về nội dung và hình thức, đặc sắc về bản sắc. Phát huy di sản văn hóa Phát huy di sản văn hóa được hiểu là đưa di sản văn hóa đến với cộng đồng, lan tỏa trong cộng đồng góp phần nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho mỗi người dân của cộng đồng, đồng thời góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Quản lý và quản lý nhà nước *Quản lý Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý. Song nhìn chung, người ta thống nhất với nhau: “ Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên khách thể nhằm đạt được mục tiêu định trước” [19,tr.
Theo cách hiểu này, quản lý là một hoạt động gắn với quan hệ của các 12 e yếu tố quản lý: - Chủ thể quản lý. - Khách thể quản lý. - Phương thức quản lý. - Mục đích quản lý.
Tùy thuộc vào mối quan hệ giữa bốn yếu tố này sẽ có những loại hình quản lý khác nhau. *Quản lý nhà nước Quản lý nhà nước (QLNN) là môt loại quản lý có những điểm khác biệt. Cụ thể: Thứ nhất, chủ thể quản lý là các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp. Thứ hai, khách thể quản lý là mọi người dân và các tổ chức trong phạm vi tác động quyền lực nhà nước.
Thứ ba, phương thức quản lý nhà nước là bằng luật và theo nguyên tắc pháp chế. QLNN mang tính quyền lực nhà nước, lấy pháp luật làm công cụ quản lý chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định và trật tự xã hội. Thứ tư, mục đích QLNN là đáp ứng mọi nhu cầu hợp pháp của người dân, là bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn xã hội, là phát triển bền vững đất nước.