Chương I. Cơ sở lý luận công tác Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội Chương 2. Thực trạng công tác Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn quận Liên Chiều Chương 3. Giải pháp hoàn thiện công tác Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn quận Liên C] 10 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CONG TAC QUAN LÝ NHÀ NƯỚC VE BAO TRQ XÃ HỘI 1.1 KHAT QUAT QUAN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HOI 1.1 Một số khái niệm a.
Bao trợ xã hội ~ Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: “8áo trợ xã hội là việc cung cắp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế nhà nước hoặc tập thể, cộng đồng nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp”. Tổ chức nhấn mạnh chiều cạnh bảo hiểm và mở rộng cơ hội việc làm và tạo việc làm cho những đối tượng có nhu cầu và trong khu vực kinh tế phi chính thức. - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) định nghĩa: “áo rrợ xã hội đề cập đến một hệ chính sách công nhằm giảm nhẹ tác động bắt lợi của những rủi ro đối với hộ gia đình và cá nhân ”. ~ Theo Ngân hàng thế giới (WB) định nghĩa: “Báo trợ xã hội là những biện pháp công cộng nhằm giúp các cá nhân, hộ gia đình và cộng đông ứng phó với và kiềm chế được nguy cơ có tác động đến thu nhập nhằm giảm tính để bị tổn thương và những bắp bênh thu nhập ”.
Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh bảo trợ xã hội vừa là mạng lưới an toàn vừa là cơ sở để phát triển vốn con người. - Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước, tập 1, trang 407: “Quan lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chính bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy tri va phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và báo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa ”. 11 Kết luận: Quản lý nhà nước vẻ bảo trợ xã hội là quá trình tác động có tổ chức và bằng các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước, thể hiện quyên lực của Nhà nước nhằm hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đông do bị mắt hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân khác nhau. Cơ sở của hoạt động bảo trợ xã hội - Công bằng xã hội: “Là một giá trị cơ bản và có tính định hướng trong việc thỏa mãn nhu cầi lời sống vật chất, tỉnh thần của bộ phận dân cư và mọi thành viên xã hội thông qua mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ phù hợp với khả năng thực hiện của những điều kiện kinh tế xã hội nhất định”.
- Phúc lợi xã hội: Là ngoài phần thu nhập của chính mình, người lao động sẽ được hưởng thêm một số lợi ích nào đó do Nhà nước thực hiện. ~ Phân phối lại phúc lợi xã hội: “Là điều hòa lại thu nhập của những tầng lớp khác nhau trong xã hội nhằm thực hiện sự công bằng trong xã hội, giảm bớt sự chênh lệch giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập dưới mức tối thiểu”.2 Đặc điểm của bảo trợ xã hội ảnh hưởng đến công tác quản lý - Đối tượng bảo trợ xã hội là mọi người dân trong xã hội không phân biệt vị thế và thành phần xã hội khi gặp khó khăn, thiếu thốn, lâm nạn, cơ nhỡ,. hoặc vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến cuộc sống thường ngày hoặc lâu dài của họ bị đe dọa. Bảo trợ xã hội là trách nhiệm và nhiệm vụ của tất cả công đồng trong xã hội.
- Nội dung chế độ BTXH được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau căn cứ vào tính ôn định hay nhất thời của trợ cấp, phụ thuộc vào nẻn kinh tế của địa phương. Bảo trợ xã hội là sự trợ giúp của xã hội, sự đóng góp của các bên, sự chia sẻ từ cộng đồng. 12 - Muc dich cia bao trợ xã hội mang tính xã hội, nhân đạo vì cộng đồng, thé hiện truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam. Hoạt động bảo trợ xã hội không nhằm bù đắp thu nhập mà chỉ hỗ trợ, giúp đỡ những người lâm vào tình trạng thực sự khó khăn, túng quẫn, cần có sự giúp đỡ về vật chất.3 Vai trò quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội ~ Bảo trợ xã hội góp phần thay thế hoặc bù đắp một phân thu nhập khi người lao động bị ốm đau, mắt khả năng lao động, mắt việc làm, hoặc chết Nhờ có sự thay thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà người lao động khắc phục nhanh chóng được những tồn thất về vật chất, nhanh phục hồi sức khỏe, ồn định cuộc sống để tiếp tục quá trình hoạt động bình thường.
- Bảo trợ xã hội góp phần đảm bảo an toàn, ồn định cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Để phòng ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị kinh tế phải đề ra các quy định chặt chẽ về an toàn lao động buộc mọi người phải tuân thủ. Khi có rủi ro xảy ra với người lao động, hệ thống ASXH nói chung và BTXH nói riêng kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho người lao động nhanh ôn định cuộc sống và sản xuất. Tắt cả những yếu tố đó góp phần quan trọng làm ồn định nén kinh tế - xã hội.
~ Bảo trợ xã hội góp phần thúc đây tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Trong đó, kinh phí BHXH là nguồn tài chính tập trung khá lớn, được sử dụng đề chỉ trả các chế độ cho người lao động và gia đình họ, phần nhàn rỗi được đầu tư vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh đề bảo tồn và tăng trưởng quỹ. Như vậy xét trên cả phương diện chỉ trả các chế độ, cũng như đầu tư tăng trưởng quỹ, hoạt động của quỹ ASXH đều góp phần thúc đây sự tăng trưởng kinh tế.4 Ý nghĩa của việc quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội - Bảo trợ xã hội được xem như là nguồn tài chính đảm bảo cho các đối 13 tượng thuộc diện trợ cấp có cuộc sống tối thiểu trong xã hội, giúp họ từng bước khắc phục được những khó khăn, hòa nhập cộng đồng. Đồng thời là nguồn an ủi rất lớn về mặt tỉnh thần đối với nhóm đối tượng chịu thiệt thòi trong cuộc sống.
- Bảo trợ xã hội là biện pháp hỗ trợ tích cực của xã hội đối với mỗi thành viên của mình khi gặp rủi ro, và làm giảm thiểu những bắt ôn trong xã hội, góp phần duy trì ồn định trong xã hội, trong đó có ồn định chính trị. Qua đó thể hiện tính nhân văn qua thái độ hỗ trợ tích cực nhằm giảm thiểu bất ôn xã hội.2 NOI DUNG CUA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI 1.1 Ban hành chính sách, pháp luật về bảo trợ xã hội a. Ban hành văn bản có liên quan đến bảo trợ xã hội ~ Bảo đảm an sinh xã hội là chủ trương nhất quán và xuyên suốt của Đảng trong lãnh đạo đắt nước, là chính sách cơ bản để giảm nghèo, bảo dam đời sống của nhân dân, thực hiện công bằng, tạo sự đồng thuận xã hội, góp phan giữ vững ồn định chính trị, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh. Ngay từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng và Nhà nước đã coi nhiệm vụ diệt giặc đói, giặc dốt như diệt giặc ngoại xâm.
Chủ tịch Hồ Chí Minh có mong ước “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Cụm từ “an sinh xã hội” được chính thức sử dụng tại Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (4/2001): “Khẩn trương mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội”. - Tiếp đó Đại hội X chủ trương “Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo. hiểm y tế, bảo hộ lao động”[26, tr33], tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân; thực.
hiện tốt các chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công, người hưởng. 14 chính sách xã hội. An sinh xã hội được Đại hội XI của Đảng xác định là một bộ phận của hệ thống chính sách xã hội, có vị trí trọng yếu, cơ bản trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước: “Thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển”[27, tr227]. Đảng và Nhà nước thực hiện những cơ chế, chính sách, biện pháp trợ giúp, bảo vệ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các đối tượng.
yếu thế, dễ bị n thương: “Bảo đảm an sinh xã hội; tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là những đối tượng yếu thé, dễ bị tổn thương”[27, tr43] - Đại hội XI, quan điểm về chính sách xã hội phù hợp với các giai tầng lớp và cộng đồng dân cư được nhắn mạnh và nhận thức sâu sắc hơn: “Xây dựng, thực hiện các chính sách phù hợp với các giai tầng xã hội; giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, ngăn chặn, giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc, những mâu thuẫn có dẫn đến xung đột xã hội. quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào. các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng gia tăng phân hóa giàu — nghèo, bảo đảm sự phát triển xã hội ồn định và bền vững. Kịp thời kiểm soát và xử lý các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội.[28, tr134-135] ~ Ngoài ra còn có các văn bản liên quan như Luật bảo hiểm xã hội; Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em; Luật người cao tuổi; Luật người khuyết tật; Luật nuôi con nuôi; Luật chăm sóc sức khỏe nhân dân, Luật khám chữa bệnh; Luật bảo hiểm y tế; Luật giáo dục.
+ Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ quy định về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội.