phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm ba chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về Bảo hiểm xã hội và Quản lý nhà nƣớc về bảo hiểm xã hội - Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. - Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và một số giải pháp tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.1 Khái niệm và vai trò, chức năng của bảo hiểm xã hội 1.1 Khái niệm cơ bản 1. Bảo hiểm xã hội: Theo từ điển Bách khoa ”BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngƣời lao động khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nƣớc theo pháp luật, nhằm đảm bảo, an toàn đời sống cho ngƣời lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội”. Theo ILO: “BHXH là sự bảo vệ của XH đối với tất cả các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để đối phó với những khó khăn về KT, XH do bị ngừng việc hoặc bị giảm bớt nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, gây mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và tự cấp cho các gia đình đông con” [19].
Ở Việt Nam, theo quan điểm của Bộ Lao động Thƣơng binh và Xã hội: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với ngƣời lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của ngƣời sử dụng lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Theo quan niệm của BHXH Việt Nam: BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với ngƣời lao động thông qua việc huy động các nguồn đóng góp để trợ cấp cho họ, nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn, thất nghiệp, mất khả năng lao động, tuổi già và chết. Đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các 6 thân nhân trong gia đình ngƣời lao động, để góp phần ổn định cuộc sống của bản thân ngƣời lao động và gia đình họ, góp phần an toàn xã hội. Quan niệm trên đây đã phản ánh đầy đủ 2 mặt của BHXH là mặt kinh tế và xã hội, thể hiện bản chất BHXH.1 Luật BHXH do Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2014: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”.
Từ các khái niệm về BHXH trên, có thể khái quát về BHXH nhƣ sau: - BHXH là hệ thống bảo đảm khoản thu nhập thay thế cho ngƣời lao động khi ngƣời lao động bị mất hoặc giảm thu nhập, thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia và có sự ủng hộ của Nhà nƣớc.2] - BHXH đƣợc chi trả trong các trƣờng hợp ngƣời lao động bị giảm hoặc mất thu nhập, chỉ trong các trƣờng hợp: ốm đau; thai sản; tai nạn lao động; bệnh nghề nghiệp; thất nghiệp; hết tuổi lao động; hoặc chết. - Quỹ BHXH đƣợc sử dụng để trả lƣơng hƣu và các khoản trợ cấp BHXH cho ngƣời lao động nhằm góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho ngƣời lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm ASXH, ổn định XH. - Đối tƣợng của BHXH chính là thu nhập (có thể coi là số tiền) bị biến động giảm hoặc mất do các trƣờng hợp đƣợc quy định trong Luật BHXH của những ngƣời lao động tham gia BHXH. - BHXH đã lấy số đông bù số ít và thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang giữa những ngƣời lao động có thu nhập thấp hơn, giữa những ngƣời khoẻ mạnh đang làm việc với những ngƣời ốm yếu phải nghỉ việc.
Nói cách khác, BHXH góp phần đảm bảo sự “thăng bằng” về thu nhập cho ngƣời lao động và gia đình họ. Điều này đã góp một phần vào việc 7 thực hiện công bằng xã hội. Một số khái niệm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội a. Mối quan hệ giữa các bên liên quan trong bảo hiểm xã hội Trong BHXH bao giờ cũng có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ về trách nhiệm phải BHXH và quyền lợi đƣợc hƣởng các trợ cấp BHXH của ngƣời lao động.
Đó chính là mối quan hệ BHXH. Mối quan hệ này phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn ra giữa ba bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên đƣợc BHXH. Hình thức tham gia là hàng tháng đóng góp một khoản tiền, còn gọi là đóng phí BHXH cho bên BHXH theo quy định. Bên tham gia có thể chỉ là ngƣời sử dụng lao động, ngƣời lao động hoặc cả hai.
Trong đó, ngƣời sử dụng lao động có trách nhiệm phải tham gia để BHXH đối với ngƣời lao động mà chính mình sử dụng, ngƣời lao động phải tham gia một phần để bảo hiểm cho chính mình. Bên BHXH là tổ chức BHXH chuyên trách do Nhà nƣớc lập ra hoặc tùy điều kiện KT, chính trị, XH, có thể do các tổ chức KT-XH và tƣ nhân lập ra theo quy định của pháp luật và đƣợc Nhà nƣớc bảo trợ. Tổ chức BHXH chuyên trách có nhiệm vụ thu phí BHXH các bên tham gia, tồn tích dần thành quỹ tiền tệ tập trung và có thể sử dụng phần nhàn rỗi tƣơng đối để hoạt động làm cho quỹ tăng trƣởng. Khi ngƣời lao động rơi vào các trƣờng hợp phải BHXH với đủ điều kiện quy định thì sẽ chi trả trợ cấp cho họ.
Bên đƣợc BHXH là những ngƣời lao động và gia đình họ có đủ những điều kiện ràng buộc cần thiết. Chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội Chính sách BHXH là những quy định chung rất khái quát của Nhà nƣớc về những mục tiêu, phạm vi, đối tƣợng, nội dung chính sách, các mối quan hệ và những giải pháp lớn về BHXH để đạt đƣợc mục tiêu chung đề ra. Vì thế, nó có giá trị dẫn dắt XH trong mỗi giai đoạn phát triển của đất nƣớc. Chính sách BHXH đƣợc đề ra trên cơ sở cơ cấu KT-XH và xu hƣớng vận động khách quan của chúng.
Nói cách khác, chính sách BHXH có thể đƣợc biểu hiện dƣới nhiều dạng phong phú nhƣ: trong các văn bản chung của Nhà nƣớc, 8 trong Hiến pháp, bộ luật, đạo luật, kế hoạch nhà nƣớc. Vì là cấp độ chung nhƣ vậy, nên chính sách BHXH sẽ không trở thành hiện thực nếu không thông qua các chế độ BHXH. Chế độ BHXH là sự cụ thể hóa chính sách BHXH, hệ thống các quy định cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phƣơng tiện để thực hiện BHXH đối với ngƣời lao động. Nói cách khác, đó là hệ thống các quy định đƣợc pháp luật hóa về đối tƣợng đƣợc hƣởng, điều kiện đƣợc hƣởng, mức hƣởng, thời gian hƣởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng trƣờng hợp BHXH cụ thể.
Chế độ BHXH đƣợc biểu hiện dƣới dạng các văn bản luật và dƣới luật, điều lệ. Nhƣ vậy thực hiện BHXH là trực tiếp thực hiện các chế độ BHXH và qua đó, chính sách BHXH mới đƣợc thực hiện. Trợ cấp bảo hiểm xã hội Trợ cấp BHXH là khoản tiền từ Quỹ BHXH đƣợc bên cơ quan BHXH chi trả cho mọi ngƣời đƣợc BHXH khi họ giảm hoặc bị mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc mất việc làm và có đủ các điều kiện quy định. Trợ cấp BHXH có nhiều loại: Trợ cấp một lần và trợ cấp thƣờng xuyên hàng tháng, trợ cấp ngắn hạn (thai sản, ốm đau) và trợ cấp dài hạn (hƣu trí, tuổi già, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp.), trợ cấp thay thế tiền lƣơng (tiền công) và trợ cấp có tính chất hỗ trợ thêm tƣơng ứng với mức suy giảm khả năng lao động.
Ngƣời lao động đƣợc hƣởng loại trợ cấp nào với mức trợ cấp và độ dài thời gian hƣởng bao nhiêu là do tính chất của hiện tƣợng phải bảo hiểm phát sinh, mức suy giảm hoặc mất khả năng lao động và thời gian đã đóng góp của họ. Để xây dựng hệ thống các loại trợ cấp BHXH nói trên, ngƣời ta phải dựa trên cơ sở mức sống, mức tiền lƣơng (tiền công), nhu cầu BHXH của ngƣời lao động trong từng loại hiện tƣợng phải bảo hiểm cụ thể và khả năng có thể tham gia đóng góp của đại đa số ngƣời lao động trong XH. Với từng loại hiện tƣợng, ngƣời ta lại xây dựng các thang, bảng trợ cấp tƣơng ứng, trong đó có khống chế mức trợ cấp tối thiểu và tối đa. Mức trợ cấp tối thiểu của loại trợ cấp thay cho 9 tiền lƣơng (tiền công) thƣờng dựa vào mức sống tối thiểu.
Mức trợ cấp tối thiểu là cơ sở để xây dựng toàn bộ hệ thống trợ cấp BHXH và là một trong những công cụ để Nhà nƣớc quản lý vĩ mô đối với BHXH trong phạm vi quốc gia. Mức trợ cấp BHXH tối đa của loại trợ cấp thay cho tiền lƣơng (tiền công) thƣờng xấp xỉ mức lƣơng trung bình, một mặt nhằm bảo vệ ngƣời lao động, mặt khác để phòng chống sự lạm dụng có thể có. Quỹ bảo hiểm xã hội Quỹ BHXH là tập hợp những đóng góp bằng tiền của những ngƣời tham gia BHXH, hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho những ngƣời đƣợc BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Nhƣ vậy, quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng, nó vừa mang tính KT vừa mang tính XH rất cao, vừa là điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển.