CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 1. Quan niệm về phát triển doanh nghiệp tư nhân 1. Khái niệm về phát triển và phát triển doanh nghiệp tư nhân 1. Khái niệm về phát triển Quan điểm về phát triển đã được rất nhiều các học giả nổi tiếng trên thế giới nghiên cứu và đưa ra các góc nhìn khác nhau.
Có quan điểm cho rằng: Phát triển được hiểu là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao. Phát triển là một quá trình vận động liên tục và không ngừng mà ở đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Quá trình phát triển là kết quả của thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất. Quá trình phát triển thường diễn ra theo đường xoắn ốc.
Khi hết mỗi chu kỳ sự vật thường lặp lại hư sự vật ban đầu nhưng lại có sự phát triển ở các cấp độ cao hơn, khác biệt hơn. Nhìn chung phát triển là khuynh hướng đi lên. Điều đó không có nghĩa là sự phát triển của các sự vật, hiện tượng là đi theo một đường thẳng. Phát triển có thể đi theo đường thẳng hoặc có thể đi theo con đường vòng, có thể quanh co và phức tạp theo đường xoáy ốc.
Khái niệm về doanh nghiệp tư nhân và phát triển doanh nghiệp tư nhân * Doanh nghiệp tư nhân Có rất nhiều quan điểm về DNTN, các quan điểm này được thể hiện thông qua các nghiên cứu, đặc biệt là các văn bản pháp quy phạm pháp luật. Năm 1990 có một văn bản rất quan trọng liên quan đến DNTN đó là Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990. Đến năm 1999 là Luật Doanh nghiệp. Năm 2014 Quốc hội đã sửa đổi và ban hành luật Luật doanh nghiệp 2014.
Và Luật doanh nghiệp năm 2020 được ban hành trên cơ sở sửa đổi bổ sung Luật doanh nghiệp năm 2014. 8 Khái niệm DNTN được định nghĩa như sau trong Luật doanh nghiệp 2020: Doanh nghiệp tư nhân là một hình thức doanh nghiệp mà một cá nhân làm chủ và chịu trách nhiệm đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản cá nhân đó. Theo quy định, mỗi cá nhân chỉ được phép thành lập một doanh nghiệp tư nhân và không thể đồng thời là chủ hộ kinh doanh hoặc thành viên của công ty hợp danh. Hơn nữa, doanh nghiệp tư nhân không được phép đóng góp vốn để thành lập hoặc mua cổ phần, hoặc phần góp vốn trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
Tóm lại, doanh nghiệp tư nhân là một loại hình doanh nghiệp mà một cá nhân làm chủ và chịu trách nhiệm về hoạt động của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản cá nhân. Doanh nghiệp tư nhân không được phép phát hành chứng khoán và mỗi cá nhân chỉ có quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Phát triển doanh nghiệp tư nhân Đối với nội dung, phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả lựa chọn khái niệm phát triển doanh nghiệp tư nhân là sự phát triển về số lượng, quy mô doanh nghiệp (cụ thể là lao động, nguồn vốn, lợi nhuận), chất lượng doanh nghiệp (về lợi nhuận). Khái niệm này sẽ được tác giả sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu.
Sự hình thành doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp tư nhân nói riêng là bộ phận quan trọng, không thể tách rời của nền kinh tế quốc dân, nó gắn liền với tư liệu sản xuất. Ở hầu hết các quốc gia trên thể giới, các doanh nghiệp tư nhân từ lâu đã khẳng định vị thế quan trọng của mình, là thành phần chủ lực của nền kinh tế, góp phần quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế quốc dân, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, tăng kim ngạch xuất khẩu…. Tuy nhiên ở Việt Nam, khái niệm doanh nghiệp tư nhân mới chỉ thực sự xuất hiện từ nửa cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, khi mà Việt Nam bắt đầu bước vào thời kỳ đổi mới. 9 Có thể nói rằng, thông qua những chủ trương, chính sách của Đảng, các cơ sở hành lang pháp lý của Nhà nước đã góp phần thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp tư nhân sau thời kỳ đổi mới, tạo ra động lực vô cùng to lớn đối với sự phát triển kinh tế nước ta, giúp giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.
Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp tư nhân ở nước ta Về địa vị pháp lý, doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và không có tư cách pháp nhân, có nghĩa là không được coi là một thực thể pháp lý độc lập, không có tài sản riêng biệt và chịu trách nhiệm vô hạn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bằng tài sản của chủ doanh nghiệp. Đây là một loại hình doanh nghiệp duy nhất không có tư cách pháp nhân, vì không phân biệt rõ ràng giữa tài sản cá nhân của chủ doanh nghiệp và tài sản của doanh nghiệp. Do đó, khi xuất hiện các vấn đề pháp lý liên quan đến tài sản, chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm giải quyết bằng toàn bộ tài sản cá nhân của mình ngoài tài sản đăng ký kinh doanh. Theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020 và các văn bản pháp luật có liên quan thì DNTN không được phát hành chứng khoán để huy động vốn.
Theo quy định thì mỗi cá nhân chỉ được thành lập một DNTN Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2020 thì DNTN không có tư cách pháp nhân. Vì vậy chủ DNTN phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng tài sản của mình. Đây cũng là điều rất hợp lý để khi phát sinh tranh chấp nếu một người làm chủ nhiều DNTN thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Cũng như các doanh nghiệp khác, các doanh nghiệp tư nhân không bị hạn chế về số lượng khi thuê lao động, được cấp con dấu mộc tròn để giao dịch phục vụ hoạt động kinh doanh, được mở các chi nhánh và văn phòng đại diện phạm vi cả trong và ngoài nước.
Doanh nghiệp tư nhân có thể mở nhiều nhà máy, phân xưởng, tuy nhiên các nhà máy phân xưởng này đều thuộc 10 quyền quản lý của doanh nghiệp, chỉ có doanh nghiệp mới được coi là đơn vị kinh doanh. Hiện nay, việc thành lập doanh nghiệp tư nhân ở nước ta khá dễ dàng, được Đảng và Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi về hành lang pháp lý nhằm giải phóng sức lao động, khai thác mọi tiềm năng thế mạnh của doanh nghiệp. Tùy vào mục đích, ý tưởng, quy mô hoạt động mà mỗi doanh nghiệp ra đời trong thời gian khác nhau, chủ yếu trong thời gian ngắn, điều này có thể tiết kiện các khoản chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp. Ở nước ta hiện nay, các DNTN chủ yếu thuộc về lĩnh vực kinh doanh và dịch vụ, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất còn hạn chế về số lượng.
Với quan điểm dựa trên mối quan hệ cung-cầu, khi có cầu thì ắt sẽ có cung, doanh nghiệp tư nhân ra đời xuất phát từ thực tế cuộc sống. Chính vì vậy, các cơ chế, chính sách của các cơ quan nhà nước là rất quan trọng, là yếu tố tiền đề, là hành lang pháp lý để các doanh nghiệp dựa vào. Nếu khung pháp lý mềm dẻo, phù hợp sẽ là động lực thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân ngày càng phát triển và ngược lại. Tuy nhiên, việc quản lý các doanh nghiệp tư nhân cũng rất quan trọng, việc hình thành các doanh nghiệp tư nhân tương đối dễ dàng, nếu không quản lý chặt chẽ sẽ dẫn đến sự hình thành bừa bãi, gây lãng phí cho nhà nước, không kể đến một số thành phần dựa vào điều này có những hành vi vi phạm pháp luật như buôn bán hóa đơn, làm hàng giả hàng nhái nhằm qua mắt Nhà nước và người lao động để trục lợi, trên thực tế đã có rất nhiều trường hợp như vậy.
Việc ra đời, tồn tại và phát triển của các DNTN trong thời kỳ quá độ lên CNXH là hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan và chịu sự chi phối của các quy luật trong nền kinh tế thị trường. Và sự quản lý, điều tiết của các cơ quan quản lý nhà nước cũng phải dựa trên sự vận động khách quan của nền kinh tế thị trường, Nhà nước chịu trách nhiệm quản lý, điều tiết chứ không can thiệp trực tiếp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 11 So với các doanh nghiệp quốc doanh, DNTN dễ thích ứng hơn với những biến động của nền kinh tế thị trường, chủ các doanh nghiệp hoàn toàn có thể đưa ra quyết định nhanh chóng đối với các hành vi kinh tế của doanh nghiệp mình mà không phải chịu sự ràng buộc từ bên nào, giúp doanh nghiệp thích ứng nhanh chóng, đạt được những mục tiêu trong hoạt động kinh doanh. Việc lựa chọn hình thức, quy mô sản xuất kinh doanh của DNTN cũng phần nào linh hoạt hơn so với các doanh nghiệp quốc doanh.
Chủ doanh nghiệp hoàn toàn có thể chủ động về vốn, nguồn lao động, trang bị các trang thiết bị máy móc, ứng dụng khoa học công nghệ… sao cho phù hợp với doanh nghiệp mình, việc ứng dụng đầu vào một cách linh hoạt, hiệu quả giúp doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao. Chủ doanh nghiệp có thể trực tiếp tham gia quản lý hoặc thuê người quản lý, tùy vào điều kiện của từng doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp tư nhân, việc thu hút nguồn lao động có năng lực, trình độ chuyên môn cao là tương đối dễ dàng. Bởi các doanh nghiệp hoàn toàn có thể chủ động trong việc đãi ngộ, trả lương hợp lý cho nhân viên, có quyền sa thải đối với những lao động kém, không đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và phải nằm trong khuôn khổ của Bộ Luật Lao động.
Doanh nghiệp tư nhân có quyền lựa chọn trang thiết bị máy móc, công nghệ sản xuất trong hoạt động kinh doanh đáp ứng yêu cầu và phù hợp với khả năng của doanh nghiệp, đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của thị trường. Doanh nghiệp hoàn toàn có thể chủ động điều chỉnh hoặc chuyển giao công nghệ khi có sự xuất hiện của thiết bị, máy móc mới. Các DNTN ở nước ta hiện nay chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, nguồn lao động ít, cơ sở hạ tầng máy móc, trang thiết bị hạn chế và đơn giản. Chính vì vậy, các DNTN dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với các nguồn nguyên liệu sẵn có.
Tổ chức bộ máy của các DNTN thường gọn nhẹ và linh hoạt để đáp ứng được nhu cầu của thị trường.