CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE NANG LỰC CẠNH TRANH HÀNG NONG SAN XUẤT KHẨU VÀO EU 1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh Cạnh tranh là một khái niệm được hiểu theo nhiều cách khác nhau.Nordhaus (1989), cạnh tranh là sự kinh địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau dé dành khách hàng hoặc thị trường. Cạnh tranh (kinh tế) tạo ra năng suất nhằm giành lay thị phần. Năng suất là giá trị sản lượng do một đơn vị lao động hoặc vốn sinh ra, nó phụ thuộc vào chất lượng và đặc điểm của sản pham (yếu tố quyết định giá của san phâm) (Michael Porter, 1985).
Khái niệm cạnh tranh được sử dụng cho cả phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia, phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành và phạm vi san phẩm. Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là ton tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân. Ở phạm vi quốc gia, theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ thì cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bang, có thé sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của người dân nước đó. Tại Diễn đàn kinh tế thế giới về cạnh tranh toàn cầu năm 2006 thì định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là “Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là dat duoc các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian”(World Economic Forum, 2006).
Xét theo phạm vi ngành kinh tế, cạnh tranh được chia làm 2 loại: cạnh tranh giữa các ngành và cạnh tranh trong nội bộ ngành. Đề giành lợi thế trên thị trường, các doanh nghiệp phải nam vững các loại cạnh tranh này để xác định đúng đối thủ cạnh tranh, từ đó lựa chọn chính xác vũ khí cạnh tranh phù hợp với điêu kiện và đặc diém của minh. Cạnh tranh giữa các ngành là cuộc đấu tranh giữa các nhà doanh nghiệp sản xuất, mua bán hàng hoá, dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm thu lợi nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đã bỏ ra và đầu tư vốn vào ngành có lợi nhất cho sự phát triển. Sự cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến việc các doanh nghiệp luôn tìm kiếm những ngành đầu tư có lợi nhất nên đã chuyên vốn từ ngành ít lợi nhuận sang ngành có nhiều lợi nhuận.
Sau một thời gian nhất định, sự điều chuyền tự nhiên theo tiếng gọi của lợi nhuận này, vô hình chung hình thành lên sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành sản xuất, dẫn đến kết quả cuối cùng là các chủ doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với số vốn bằng nhau chỉ thu được lợi nhuận như nhau. Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó. Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến sự hình thành giá cả thị trường đồng nhất đối với hàng hoá dịch vụ cùng loại trên cơ sở giá trị xã hội của hàng hoá dịch vụ đó. Trong cuộc cạnh tranh này, các doanh nghiệp thôn tính lẫn nhau.
Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường, những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh, thậm chí bị phá sản. Ở phạm vi sản phẩm, vấn đề sản phẩm bán tới tay khách hàng được coi trọng hàng đầu, bởi sản phẩm là đại diện cho thương hiệu của doanh nghiệp, cho sự lớn mạnh hoặc yếu kém trong lĩnh vực cung cấp mặt hàng cùng công cụ sử dụng. Cạnh tranh về sản phẩm thường được thể hiện qua các mặt: Cạnh tranh về trình độ sản phẩm: Tuy theo những sản phâm khác nhau để chúng ta lựa chọn những nhóm chỉ tiêu khác nhau có tính chất quyết định trình độ của sản phâm. Doanh nghiệp sẽ chiến thắng trong cạnh tranh nếu như lựa chọn trình độ sản phẩm phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng.
Cạnh tranh về chất lượng: Tùy theo từng sản phẩm với đặc điểm khác nhau dé lựa chon chỉ tiêu phản ánh chất lượng khác nhau. Nếu tạo ra nhiều lợi thế cho chỉ tiêu này thì sản phẩm càng có nhiều cơ hội giành thắng lợi cạnh tranh trên thị trường. Cạnh tranh về bao bì: Cùng với việc thiết kế bao bì cho phù hợp, doanh nghiệp còn phải lựa chọn cơ cấu sản phâm phù hợp, lựa chọn cơ cấu hàng hóa và cơ cau chủng loại hợp lý. Cạnh tranh về nhãn mác, uy tin sản phẩm: Doanh nghiệp sử dụng công cu nay dé đánh trực tiếp vào trực giác của người tiêu dùng.
Cạnh tranh do khai thác hợp lý chu kỳ sống của sản phẩm: Sử dụng biện pháp này, doanh nghiệp cần phải có những quyết định sáng suốt để đưa ra một sản phẩm mới hoặc dừng việc cung cấp một sản phâm đã lỗi thời. Từ những định nghĩa và các cách hiểu không giống nhau trên có thê rút ra các điểm hội tụ chung sau đây: “Cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có chức năng như nhau thông qua các hành động, no lực và các biện pháp dé giành phan thắng trong cuộc dua, để thỏa man các mục tiêu của mình. Các mục tiêu này có thể là thị phân, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn và danh tiếng”. Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi cạnh tranh là lành mạnh, hoàn hảo và giúp cho các chủ thể tham gia đạt được tất cả những gì mình mong muốn.
Trong thực tế, dé có lợi thé trong kinh doanh, các chủ thé tham gia đã sử dụng những hành vi cạnh tranh không lành mạnh dé làm tổn hại đến đối thủ tham gia cạnh tranh với mình. Cạnh tranh không mang ý nghĩa triệt tiêu lẫn nhau, nhưng kết quả của cạnh tranh mang lại là hoàn toàn trái ngược. Ở góc độ tích cực, cạnh tranh là nhân tố quan trọng góp phan phân bổ các nguồn lực có hạn của xã hội một cách hợp lý, trên cơ sở đó giúp nên kinh tế tạo lập một cơ cau kinh tế hợp lý và hoạt động có hiệu quả. Bên cạnh đó, cạnh tranh góp phần thúc đây các doanh nghiệp đầu tư vào sự tiễn bộ của khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực dẫn đến gia tăng năng suất sản xuất xã hội, sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất đầu vào nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu xã hội thông qua các sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao, giá thành hạ và mẫu mã đa dạng.
Ở góc độ tiêu cực, cạnh tranh khiến cho những doanh nghiệp nhỏ, không có các yêu tô cạnh tranh sẽ bị chèn ép, không còn điêu kiện phát triên. Nêu cạnh 9 tranh chỉ nhằm mục đích chạy theo lợi nhuận thì có thể Xảy Ta nhiều hậu quả nghiêm trọng cho xã hội như môi trường sinh thái bị hủy hoại, nguy hại cho sức khỏe con người, đạo đức xã hội bị xuống cấp, nhân cách con người bị tha hóa. Nếu xảy ra tình trạng này, nền kinh tế quốc gia sẽ phát triển một cách lệch lạc và không vì lợi ích của số đông. Về bản chất, cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường là cơ chế tự điều chỉnh, mang lợi ích cho cả người sản xuất cũng như người tiêu dùng.
Nhà sản xuất có thé chiếm lĩnh thị phần, tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng hoá dé đạt được lợi nhuận cao nhất thông qua nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu 1. Tiêu chí đánh gia năng lực cạnh tranh hàng nông san xuất khẩu Theo Klaus Frohberg và cộng sự (2006), việc đánh giá khả năng cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu rất quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp xuất khâu hàng nông sản nào. Đây là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
Do nhiệm vụ cơ bản của doanh nghiệp là sản xuất kinh doanh nên nếu hàng nông sản của doanh nghiệp có sức cạnh tranh thấp thì sức cạnh tranh của doanh nghiệp không thé cao được. Năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu được đánh giá dựa trên các tiêu chí cơ bản như: Chất lượng sản phẩm, thương hiệu, khả năng thu hút nguồn lực. > Chất lượng sản phẩm Có thé nói, ngày nay chất lượng là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một sản phẩm. Chất lượng của sản phẩm càng cao thì vòng đời sản phâm càng dai hay nói cách khác là khoảng thời gian tồn tại của sản phẩm trên thị trường càng lâu.
Chất lượng sản pham là chỉ tiêu tong hợp bao gồm: Chỉ tiêu kinh tế (chi phí sản xuất, chi phí bao đảm chat lượng, chi phí sử dụng, chi phi môi trường) và các chỉ tiêu kỹ thuật (công dụng, thẩm mỹ, an toàn vệ sinh, tiện dụng). Phần lớn các chỉ tiêu này được so sánh với tiêu chuẩn ngành, của quốc gia và của quốc tế. Một số chỉ tiêu định tính như thâm mỹ, tiện dụng thường được xác định thông qua điều tra khách hàng. Trong đó: 10 Năng suất lao động là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh, năng suất lao động được do bang tỷ số giữa doanh thu thuần và số lao động trung bình trong kỳ.
Đây là chỉ tiêu quan trọng dé đánh giá năng lực cạnh tranh, chỉ tiêu này cao phản ánh năng lực cạnh tranh cao. Chỉ tiêu năng suất thường được sử dụng bao gồm: Năng suất lao động, hiệu suất sử dụng vốn và năng suất yếu tố tổng hợp. Năng suất phản ánh lượng sản phẩm đầu ra so với đơn vị yếu tố đầu vào, là chỉ tiêu phản ánh năng lực khai thác, sử dụng các yếu tô sản xuất của doanh nghiệp. Đồng thời, chỉ tiêu này còn phản ánh năng lực đáp ứng yêu cầu của khách hang, chi phí trên đơn vị sản phẩm và đơn vị thời gian.
Do đó, năng suất phản ánh mặt lượng của năng lực cạnh tranh. Chi phí đơn vị sản phẩm là phản ánh lợi thé cạnh tranh của doanh nghiệp. Chi phí đơn vị sản phẩm thấp hon phan ánh năng lực cạnh tranh của sản pham cao hơn. Hiệu quả kỹ thuật là chỉ số đo mức độ sử dụng, khai thác các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp.