CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ TÍN DỤNG NGAN HÀNG THUONG MẠI TRONG NEN KINH TE THỊ TRUONG 1. Téng quan tình hình nghiên cứu Lĩnh vực lĩnh vực tài chính, ngân hang đã có rất nhiều dé tài nghiên cứu, từ nghiên cứu về tín dụng cho đến các nghiên cứu về quản trị tín dụng các NHTM nói chung, có thể kế đến các dé tai nghiên cứu thực tiễn có liên quan như: Đề tài “Hoàn thiện hệ thống tín dụng nông thôn đáp ứng nhu cầu vốn phát triển nông nghiệp các Tỉnh miền núi Tây Nguyên” của tác giả Đặng Văn Quang năm 1999. Dé tài tập trung nghiên cứu mở rộng và hoàn thiện các mô hình tô chức tin dụng, chủ yếu là các NHTM dé đảm bảo tiện ích cho người vay vôn phát triển nông nghiệp vùng Tây Nguyên; Đề tài: “Phát triển các nghiệp vụ tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam” của Nguyễn Kim Anh, bảo vệ tại Đại học Kinh tế quốc dân năm 2004. Nội dung của đề tài tập trung vào nghiên cứu đa dạng hóa các nghiệp vụ tín dụng của NHTM giai đoạn cơ cấu lại sau khủng hoảng tai chính - tiền tệ khu vực; Luận văn thạc sỹ “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Sở Giao dịch II - Ngân hàng công thương Việt Nam” của Trương Thị Thu Ngân - Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh; Luận văn thạc sỹ “Nâng cao chất lượng tín dụng tại Chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Đông Đô” của Nguyễn Thu Phương - Dai học kinh tế quốc dân, cùng với luận văn của nhiều học viên các trường đại học trong cả nước về vấn đề chất lượng tín dụng và quản trị hoạt động tín dụng ngân hàng.
Tuy nhiên các nghiên cứu thực tiễn trên đề cập đến những giải pháp chung nhất và mang tính thời điểm, phạm vi trong một tổ chức cụ thê, mặt khác một số đề tài mới chỉ tập trung chủ yếu nghiên cứu về lĩnh vực quản lý rủi ro tín dụng. Do đó đứng trước bối cảnh hiện nay và với một tổ chức như BIDV Hà Giang hoạt động trên một địa bàn miền núi đặc biệt khó khăn, thì các giải pháp không còn phù hợp nữa. Vì vậy cần có những nghiên cứu thật chi tiết về quản lý hoạt động quản lý hoạt động tin dụng đối với BIDV Ha Giang nhằm đáp ứng được yêu câu phát triển của ngân hàng cũng như phục vụ tốt cho chính sách phát triển kinh tế, chính trị và xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Vai trò của tín dụng đối với phát triển kinh tế xã hội.
Khái niệm về tín dụng Tin dung (credit) xuat phát từ chữ La tinh là: credo (tin tưởng, tín nhiệm). Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thê khác), trong đó bên cho vay chuyền giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Tín dụng ngân hàng là một hình thức phát triển cao của tín dụng, tuy nhiên nó vẫn giữ nguyên được bản chất ban đầu của quan hệ tín dụng (Hồ Diệu, 2001, trang 19-20). Dưới góc độ chuyển dịch quỹ cho vay: Tín dụng được coi là phương pháp chuyền dịch quỹ từ chủ thể thặng dư vốn sang chủ thê thiếu hụt vốn.
Theo quan hệ tài chính cụ thể: Tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thê. Theo chức năng hoạt động của ngân hàng: Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thé khác). Trong đó, bên cho vay chuyên giao tài sản cho bên đi vay sử dụng một thời gian nhất định theo thoả thuận (Hồ Diệu, 2001, trang 20). Theo Luật các tô chức tin dụng: cấp tín dụng là việc Tổ chức tín dụng thỏa thuận dé tổ chức, các nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền trong một thời gian nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (Luật các TCTD, 2010, trang 4).
Như vậy từ những quan niệm trên, có thé thấy bản chất của tin dụng là giao dịch về tài sản trên cơ sở có thời hạn và hoàn trả. Tài sản trong quan hệ tín dụng có một số đặc trưng như sau (Hồ Diệu, 2001, trang 21): Thứ nhất, tài sản giao dịch trong quan hệ tin dung bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản). Trong những năm trước đây, hoạt động tín dụng chỉ có hình thức chủ yếu là cho vay. Xuất phát từ đó mà nhiều lúc thuật ngữ tín dụng và cho vay được coi là đồng nghĩa với nhau.
Từ những năm 1970 trở lại đây, cho thuê tài chính đã được các ngân hàng hoặc các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng. Đây là một hình thức tin dụng bang tai sản thực (nhà ở, văn phòng, máy móc thiết bị.) Thứ hai, xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quan lý hoạt động tin dụng. Trong thực tế, các nhân viên tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sở đánh giá mức độ tín nhiệm mà lại chú trọng đến các bảo đảm về tài sản.
Thứ ba, giả trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay. Nói cách khác, người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Thứ tư, trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Phân loại tín dụng Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định.
Có nhiều căn cứ dé phân loại tín dụng. Dưới đây là một số căn cứ và phân loại cụ thé (Hồ Diệu, 2001, trang 22 đến trang 29): - Theo mục đích và lĩnh vực sử dụng: có tín dụng bất động sản, tín dụng công nghiệp, tin dụng thương nghiệp, tin dụng nông nghiệp (Hỗ Diệu, 2001, trang 22). + Tín dụng bất động sản: Là loại tín dụng liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bat động sản như: nhà ở, đất đai, nhà xưởng, máy móc thiết bị. + Tin dụng công nghiệp là loại cho vay để bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp.
+ Tín dụng thương nghiệp, dịch vụ là quan hệ tín dụng phát sinh trong mua bán, trao đôi hàng hoá dịch vụ. + Tín dụng nông nghiệp là quan hệ tín dụng phát sinh trong lĩnh vực nông nghiệp. + Tín dụng cho thuê là hình thức tín dụng mà người sở hữu tài sản cho thuê tải sản trong một thời hạn nhất định. + Tín dụng cho vay cá nhân là loại cho vay dé đáp ứng các nhu cau tiêu dùng như mua sắm các vat dụng dat tiền và các khoản cho vay dé trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tin dung.
- Theo thời hạn: có tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn (Hồ Diệu, 2001, trang 23). + Tín dụng ngắn hạn là khoản tín dụng dưới 12 tháng và thường là để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chỉ tiêu ngắn hạn của các cá nhân. + Tin dụng trung hạn là khoản tin dụng có thời han từ 1 đến 5 năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu dé đầu tư mua sắm tài sản cố định, đổi mới thiết bị công nghệ.
+ Tín dụng dài hạn là khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm, cá biệt có thê lên đến 40 năm. Khoản tín dụng này thường sử dụng phục vụ cho các công trình quốc tế dân sinh như: đầu tư xây dựng hạ tầng, giao thông, điện nước, văn hoá giáo dục. - Theo mức độ tín nhiệm với khách hàng: có tín dụng có bảo đảm, tín 8 dụng tín chấp (Hồ Diệu, 2001, trang 24). + Tín dụng có đảm bảo là khoản tín dụng dựa trên cơ sở các đảm bảo như thế chấp, cầm cố, bảo đảm bừng tài sản của người thứ ba.
+ Tín dụng tín chấp là khoản tín dụng không có đảm bảo bằng các biện pháp ké trên mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, tài chính lành mạnh thì có thể được cung cấp các khoản tín dụng không cần đến nguồn đảm bảo khác. - Theo phương pháp hoàn trả: Dựa vào căn cứ này cho vay của ngân hàng thương mại được chia làm 2 loại (Hồ Diệu, 2001, trang 25). + Tín dụng có thời hạn hoàn trả là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp đồng, gồm có: Cho vay chỉ một kỳ hạn trả nợ (hay còn gọi là phi trả góp); cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể hay còn gọi là cho vay trả góp; Cho vay hoàn tra nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn trả nợ cụ thé.
+ Tín dụng cho vay không có thời hạn cụ thé. Đối với loại cho vay không có thời hạn cụ thê thì ngân hàng có thể yêu cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý được ghi trong hợp đồng tín dụng. - Theo xuất xứ tín dụng: Dựa vào xuất xứ tín dụng cho vay được chia làm hai loại như sau (Hồ Diệu, 2001, trang 26): + Tín dụng trực tiếp, ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. + Tín dụng gián tiếp, là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán, thông qua việc chiết khấu thương phiếu, mua các phiếu bán hàng.
Vai trò của tín dụng và tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội. a) Vai trò của tín dụng nói chung.