Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý chỉ thường xuyên NSNN Chương 2: Thực trang quản lý chỉ thường xuyên NSNN của tỉnh Kon Tum. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý chỉ thường xuyên NSNN của tỉnh Kon Tum. Téng quan tài Với mục tiêu xây dựng giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN của tỉnh Kon Tum, tác giả đã nghiên cứu các cơ sở lý luận, giải pháp thực tiễn từ các tài liệu và các nghiên cứu của một số tác giả trước đó. Sau đó, tác giả đối chiếu, so sánh với thực trạng tỉnh Kon Tum đang gặp phải và đưa ra giải pháp phù hợp.
Sau đây là một số tài liệu được sử dụng cho để tài nghiên cứu Án phẩm “Quản jÿý chỉ tiểu công” (năm 2011), PGS. TS Lê Chỉ Mai, Học viện Chính trị - Hành chính qué gia Hồ Chí Minh. Nội dung cuốn sách khái quát vai trò và chức năng kinh tế của Chính phủ tạo cơ sở khách quan cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế và công tác quản lý chỉ tiêu công. Đồng thời, phân tích xu hướng cải cách quản lý chỉ tiêu công trên thế giới, thực trạng cải cách chỉ tiêu công ở Việt Nam và những thách thức đặt ra trong lĩnh vực chỉ tiêu công.
Qua nghiên cứu, tác giả có tham khảo một số nội dung liên quan đến đề tài luận văn đang nghiên cứu, từ đó áp dụng đối với thực trạng của địa phương Bài viết “Nhìn lại công tác quản lý chỉ NSNN năm 2014, định hướng. năm 2015” trên Tạp chí tài chính (ndm 2015) c6 phan tích đánh giá tình hình. quản lý chỉ ngân sách trong năm 2014, quá trình triển khai thực hiện các giải pháp nhằm quản lý chỉ tiêu chặt chẽ, hiệu quả, giúp tiết kiệm đáng kể nguồn chỉ ngân sách. Bên cạnh đó, từ những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế của.
năm 2014, Bài viết đã nêu lên những nhiệm vụ trọng tâm của năm 2015, trong đó có nhiệm vụ chỉ ngân sách nhà nước năm 2015. Đồng thời, đưa ra các giải pháp để thực hiện công tác quản lý chi NSNN chat chẽ, triệt dé tiết kiệm, chống lãng phí cả trong chỉ thường xuyên và đầu : từng bước cơ cầu lại chỉ NSNN; xác định thứ tự ưu tiên trong phân bổ nguồn NSNN đối với từng ngành, lĩnh vực; rà soát lại các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án và các chính sách chỉ ngân sách để đảm bảo thiết thực, tránh dàn trải, trùng lặp, không hiệu quả. Tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính; tăng cường kiểm tra, giám sát và công khai, minh bạch việc sử dụng NSNN. Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Ngọc Hải với đề tài: “Hoàn thiện cơ chế chỉ NSNN cho việc cung ứng hàng hoá công cộng ở Việt Nam, năm 2008.
Luận án khái quát được những vấn đề lý luận chung về cơ chế quản lý chỉ NSNN cho hàng hoá công công, đồng thời qua đó khái quát cách thức tổ chức và điều hành các khoản chỉ NSNN để thực hiện cung ứng hàng. hoá công công của Nhà nước. Dựa trên các luận cứ khoa học đã nêu trên, luận án đã trình bày các phân tích, đánh giá thực trạng về nhiệm vụ chỉ NSNN và cơ chế quản lý NSNN cho việc cung ứng hàng hóa công cộng trong thời kỳ chuyển đổi nên kinh tế ở Việt Nam trên hai khía cạnh: những thành tựu đã đạt được và những vấn đề cần hoàn thiện, như vậy Luận án đã nêu bật được những vấn đề còn bất cập chủ yếu của cơ chế quản lý chỉ NSNN cho việc cung ứng hàng hoá công cộng hiện nay. Luận án đã đóng góp các giải pháp về hoàn thiện cơ chế quản lý chỉ NSNN cho cho việc cung ứng hàng hóa công cộng mang tính khoa học vì dựa trên các mặt: cơ sở của giải pháp, điều kiện áp dụng phù hợp với quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
Tuy nhiên, về nội dung trên bình diện quản lý vĩ mô của chỉ NSNN đối với hàng hóa công cộng Li án chưa chỉ ra được nguyên nhân sâu xa của sự bắt cập trong vận hành cơ chế này. Do phạm vỉ nghiên cứu rộng nên giải pháp còn thiếu cụ thể, và chưa rõ định hướng. Luận văn “Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách tỉnh Quảng Nam”, Thạc sĩ của Tạ Xuân Quan, chuyên ngành Kinh tế phát triển, năm 2011. Bài viết đã phân tích tinh hình quản lý NSNN tỉnh Quảng Nam, rút ra các ưu nhược điểm và nguyên nhân cơ bản trong công tác quản lý ngân sách tỉnh.
Qua đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách Quảng Nam trong thời gian đến. Luận văn “Hoàn thiện công tác quản lý chỉ NSNN tại thành phố Đà Nẵng”, Thạc sĩ của Ngô Thị Bích, chuyên ngành Quản trị kinh doanh, năm 2011. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản vẺ chỉ tiêu NSNN, những. quy định về quản lý chỉ tiêu NSNN trên cơ sở Luật ngân sách nhà nước, các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ Tài chính có liên quan.
Phân tích thực trạng về quản lý chỉ NSNN của thành phố Đà Nẵng. Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chỉ NSNN của thành phố Đà Nẵng trong những năm đến. Trong tình hình nguồn thu không én định, chỉ thường xuyên vẫn còn tình trang lang phi, chỉ sai chế độ quy định, không đúng mục đích thì việc tăng cường quản lý chỉ thường xuyên NSNN càng trở nên cấp thiết và được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn, như: “Xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá chỉ tiêu công dựa trên kết quả ở Việt Nam”, của các tác giả Sử đình Thành, Bùi Thị Mai Hoài, Tạp chí Phát triển Kinh tế, số 258 tháng 4 năm 2012; “Bàn thêm vẻ quản lý chỉ tiêu công của Hà Tĩnh”, của tác giả Bùi Thị Quỳnh Thơ, Tạp chí Nghiên cứu Tài chính kế toán, số 6 (107) - 2012. Các bài báo trên cho thấy bức tranh sơ bộ vẻ tình hình quản lý chỉ NSNN và các giải pháp nhằm tăng cường quản lý chỉ NSNN.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết thì chưa thể phân tích sâu về thực trạng cũng. như đưa ra các giải pháp thích đáng. “Tóm lại, các nghiên cứu trên đã có ít nhiều đóng góp cho các nhà quản lý trong việc tăng cường quản lý chỉ NSNN. Tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn chưa thể chứng minh được các mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chỉ NSNN tại một địa bàn cụ thể như tỉnh Kon Tum, nhân tố nào ảnh hưởng nhiều nhất, nhân tố nào ảnh hưởng ít nhất, và chưa định lượng mức độ tác đông của từng nhân tố đến quản lý chỉ NSNN, dé từ đó.
giải pháp đề ra sẽ tập trung vào giải pháp cho nhân tố có ảnh hưởng nhiều nhất đến quản lý chỉ, có như thế giải pháp đưa ra mới có tính thuyết phục. Các nghiên cứu trên cũng chưa chỉ ra được đâu là khâu yếu kém nhất trong quản lý chỉ NSNN ở địa phương để có cơ sở thích đáng cho việc tăng. cường quản lý trong lĩnh vực này, nhằm tăng hiệu qua chi NSNN. Hơn nữa, cũng cần đưa ra các tiêu chí mới để đánh giá công tác quản lý chỉ NSNN để phân tích rõ hơn thực trạng quản lý chỉ NSNN cho một địa phương; đồng thời đánh giá hiệu quả công tác quản lý chỉ NSNN trên địa bàn tỉnh Kon Tum từ đó thiết lập một quy trình toàn diện hơn cho liên kết chính sách, kế hoạch và ngân sách trong quản lý chỉ NSNN ở địa bàn địa phương.
Xuất phát từ nhận định trên đẻ tài: “Hoàn thiện quản lý' chỉ thường xuyên NSNN của tỉnh Kon Tum” sẽ tiếp tục là vấn đề cấp thiết để nghiên cứu. CHUONG 1 CO SO LY LU. VE QUAN LY CHI THUONG XUYEN ÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. CHÍ THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.
Ngân sách nhà nước a. Khai nigm NSNN Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế lịch sử, khách quan, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Theo Bach khoa toàn thư mở Wikipedia, ngân sách nhà nước là bảng cân đối của chính phủ về nhưng khoản thu và chỉ dự kiến trong một năm tài chính, và thường được cơ quan lập pháp thông qua, cơ quan hành pháp phê duyệt và do Bộ tải chính chuẩn bị. Tài liệu này cho biết những khoản thu và chị dự tính của Chính phủ cho năm tài chính hiện hành.
Theo khoản 14 Điều 4 Luật ngân sách nhà nước năm 2015 có quy định, Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thấm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. 'Qua các khái niệm trên, hiểu theo một nghĩa chung nhất, NSNN là một kế hoạch tài chính của quốc gia bao gồm chủ yếu các khoản thu và chỉ của Nha nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ. Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào NSNN; phần chỉ thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được để thực hiện mục tiêu KT-XH. NSNN được lập và thực hiện cho một thời gian nhất định, thường là một năm và được Quốc hội phê chuẩn thông qua.
10 Tuy nhiên, NSNN cũng có thể hiểu là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước hay nguồn lực tài chính của nhà nước. Quỹ này thể hiện lượng tiền huy động từ thu nhập quốc dân để đáp ứng cho các khoản chỉ tiêu của Nhà nước, có hai mặt đó là: mặt tĩnh và mặt động. Mặt tĩnh thể hiện các nguồn tài chính được tập trung vào NSNN mà chúng ta có thể xác định được vào bắt kỳ thời điểm nhất nào đó. Trong khi đó, mặt động thể hiện các quan hệ của nhà nước.
với các chủ thê trong nền kinh tế gắn liền với quỹ tiền tệ tập trung vào NSNNỀ và từ NSNN phân bổ các nguồn tài chính cho thành phần, lĩnh vực, địa phương trong nền kinh tế của mỗi quốc gia.