Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE QUAN LY KHAI THÁC TÀI NGUYÊN GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1. Một số khái niệm cơ bản về khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường * Những khái niệm 1.1 Tài nguyên * Tài nguyên “Tai nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức được sử dụng để tạo ra của cải vật chất hoặc tạo ra giá tri sử dụng mới của con người” [12,tr15]. Tài nguyên bao gồm: Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên xã hội. tài nguyên tái tạo, tài nguyên không tái tạo, tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biên, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên năng lượng, tài nguyên khí hậu cảnh quan.
* Khoáng sản Khoáng sản là những dạng vật chất đóng vai trò to lớn trong đời sống con người như sắt, than đá, kẽm, vàng, dầu khí, nước khoáng thiên nhiên. Dưới góc độ pháp luật, “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ich được tích tu tự nhiên ở thé rắn, thé lỏng, thé khí tồn tai trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ” [7, tr. Khoáng sản được hiểu bao gồm các tài nguyên trong lòng dat, trên mặt đất dưới dạng những tích tụ tự nhiên khoáng vật, khoáng chất có ích ở thể răn, thê lỏng, thé khí, hiện tại hoặc sau nảy có thé khai thác. Khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ mà sau nay có thé được khai thác lại, cũng là khoáng sản.
Và văn bản pháp luật gần đây nhất là Luật khoáng sản 2010 được Quốc hội thông qua ngảy 17 tháng 11 năm 2010 cũng một lần nữa khang định lại “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thé rắn, thé lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ”[7.2 Môi trường * Môi trường “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, làm cơ sở tồn tại của con người và có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất và phát triển của con người” [8,tr. Thành phan môi trường là các yếu tố vật chất tự nhiên tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác. * Ô nhiễm và ton thương môi trường Ô nhiễm môi trường là tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa học, sinh học, bức xạ, tiếng Ôn, bụi. gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và các cơ thê sống khác.
Ô nhiễm môi trường xảy ra do nhiều yếu tô trong đó có yếu tô sản xuất, các hoạt động kinh tế và hoạt động xã hội. Ô nhiễm môi trường thường thể hiện qua các hình thái như ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí. “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật” [8,tr. * Bảo vệ môi trường “Là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học” [8,tr.
Bảo vệ môi trường được hiểu là bao gồm những hoạt động, những việc làm trực tiếp, tạo điều kiện giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện điều kiện vật chất, cải thiện điều kiện sống của con người, sinh vật ở trong đó, làm sức sống tốt hơn, duy trì cân băng sinh thái, tăng đa dang sinh học. Bảo vệ môi trường gồm hệ thống pháp luật, các chính sách chủ trương, các chỉ thị. nhằm ngăn chặn hậu quả xấu từ tác động của con người đối với môi trường, các sự cỗ môi trường do con người và thiên nhiên gây ra. Bảo vệ môi trường bao hàm cả ý nghĩa khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên.3 Khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường Khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường là áp dụng một cơ chế vận hành tức là cơ chế quản lý như hệ thống pháp luật, chính sách, biện pháp tổ chức, tâm lý xã hội dé đạt được mục tiêu bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác tài nguyên.
* Nhân tố quyết định đến nguon lực quản lý khai thác than và bảo vệ môi trường + Ba nhân tổ cơ bản Thứ nhất là hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội cho hoạt động khai thác và bảo vệ môi trường. Thứ hai là trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ chuyên môn của chủ thê quản lý. Thứ ba là văn hoá và ý thức cộng đồng. + Nhân to quyết định Nhân tố quan trọng và có tính quyết định chính là con người.
Do đó dé quản lý và sử dụng tối đa hiệu quả các nguồn lực thì cần phải xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp trong lĩnh vực quản lý hoạt động khai thác than nhằm điều kiện đầy đủ cho con người thực hiện. 10 Bên cạnh đó cũng cần nâng cao chất lượng của đội ngũ làm công tác quản lý, các doanh nghiệp khai thác và toàn dân bằng các phương pháp như giáo dục tư tưởng chính trị, trình độ chuyên môn, ý thức nghề nghiệp dé dap ứng được những yêu cầu chung của toàn xã hội về quản lý hoạt động khai thác than và bảo vệ môi tr- ờng.2 Nội dung quản lý khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường 1.1 Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực của Nhà nước lên đối tượng quản lý dé phối hợp sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu đất nước đặt ra trong điều kiện môi trường biến đồi. Quản lý Nhà nước sẽ thực hiện bốn chức năng cơ bản sau: - Chức năng hoạch định - Chức năng tổ chức - Chức năng lãnh đạo - Chức năng kiểm tra.2 Chủ thể quản lý khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường Chủ thể quản lý là chính phủ và giao cho hai bộ trực tiếp quản lý là Bộ Tài nguyên và Môi trường (Vụ Pháp chế, Vụ Khoa học - Công nghệ), Bộ Công Thương (Vụ Công nghiệp nặng), Chủ thé quản lý thực hiện công tác hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra và điều hành việc thực hiện cơ chế chính sách của nhà nước về hoạt động khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường, việc chấp hành pháp luật trong quá trình khai thác”. Chủ động xử lý và báo cáo Chính phủ, các cơ quan liên quan để kịp thời xử lý những vướng mắc nây sinh vượt quá thâm quyền.
“Xây dựng và đề xuất lên Chính phủ những giải pháp, những kế hoạch, những chiến lược II và tầm nhìn khoa học cho việc phát triển hoạt động khai thác tài nguyên quốc gia gắn với bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên” [19].3 Nội dung quản lý khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường 1.1 Xây dựng và hoạch định cơ chế quản lý về khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường Cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng một cơ chế quản lý cấp nhà nước trên cơ sở luật pháp về khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường do suy thoái môi trường từ hoạt động khai thác gây ra. Đây là một nội dung quan trọng nhất trong công tác quản lý khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường thông qua các mục tiêu, các phương hướng và việc triển khai các nguồn lực đề thực hiện. Không riêng gì Việt Nam mà ở hầu hết các nước trên thế giới đã có một thời gian rất dài nhất là sau cuộc cách mạng công nghiệp, việc phát triển kinh tế băng con đường khai thác tài nguyên được đặt lên hàng đầu, lấn át tất cả những yếu tố khác của sự phát triển đặc biệt là yếu tố môi trường. Phát triển khai thác tài nguyên tự phát đã trở nên phổ biến và gây ra hậu quả hết sức tai hại cho cả môi trường khoáng sản tự nhiên lẫn môi trường xã hội, văn hoá.
Ngay cả trong thời điểm hiện tại, khi mà cuộc chạy đua phát triển giữa các quốc gia, giữa các khu vực kinh tế của thế giới đang diễn ra gay gat, trong bối cảnh đó người ta dé có khuynh hướng công khai hoặc bí mật hi sinh môi trường cho phát triển kinh tế. Hậu quả là môi trường khoáng sản tự nhiên cạn kiệt và suy thoái môi trường trầm trọng làm cho cơ sở phát triển kinh tế bị thu hẹp. Tài nguyên của môi trường bị giảm sút về số lượng và chất lượng. Thậm trí trong những năm gần đây, con người đã phải chứng kiến “sự phản kháng tức giận” [12,tr57] của môi trường tự nhiên cho đời sống con người như lũ lụt, hạn hán, sụt lở đất, động đất, nước biển dâng, 12 bão từ.Tất cả đều do hoạt động khai thác tài nguyên ở mức độ hủy diệt của con người gây ra và chịu hậu quả cũng chính là con người.2 Tô chức thực hiện cơ chế quản lý về khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường Dé tổ chức thực hiện được cơ chế quản lý về khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường cần thiết lập một cơ chế tô chức phù hợp với các mục tiêu trong công tác quản lý như xác định rõ chức năng, nhiệm vụ quyền hạn giữa các cấp quản lý, giữa ngành khai thác khoáng sản với địa phương và thiết lập mối quan hệ trong khuôn khổ pháp lý được nhà nước qui định.
“Trong phạm vi một quốc gia, cũng như trên toàn thế giới, luôn luôn tồn tại hai hệ thống: Hệ thống kinh tế - xã hội và Hệ thống môi trường” [12. Hệ thống kinh tế - xã hội cấu thành bởi các khâu sản xuất, lưu thông phân phối, tiêu thụ, tạo nên một dòng luân chuyền nguyên liệu, năng lượng, hàng hóa, phế thải giữa các phần tử của hệ thống. Hệ thống môi trường với các thành phần thiên nhiên và xã hội cùng ton tại trên một địa bàn với hệ thống kinh tế - xã hội. Mối quan hệ này hay mâu thuẫn và đều được biéu hiện rat rõ rảng.
Hệ thống kinh tế lấy nguyên liệu, năng lượng từ hệ thống môi trường. Đây là một chức năng của môi trường cung cấp nguyên, nhiên liệu cho cuộc sống con người.