Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÝ LỚP 4,5 Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu về quá trình học tập dựa vào trải nghiệm có lịch sử phát triển lâu dài trên thế giới. Nhà tâm lý học người Nga L.S Vugotsky trong các nghiên cứu của mình khẳng định phải học tập dựa trên những kinh nghiệm mà bản thân đã thu thập được từ trước.
Nhà giáo dục cho rằng, mỗi cá nhân, mỗi con người thông qua các trải nghiệm sẽ tự mình tích lũy kinh nghiệm, điều chỉnh, phát triển làm cho các kinh nghiệm ấy dần được phong phú hơn. Nếu biết phát huy những kinh nghiệm ấy con người có thể vượt qua các khó khăn trong cuộc sống (dẫn theo [25]). Cuốn sách “Phương pháp tiếp cận lớp học đồng ruộng” của tổ chức Liên hợp quốc (FAO) năm 2010 đã đề cập đến việc dạy học trên cánh đồng cho người nông dân ở vùng Đông Phi. Nội dung cuốn sách đề cập đến việc dạy nghề nông nghiệp dựa trên kinh nghiệm của người nông dân và các lớp học được tổ chức tại nơi làm việc với hình thức nhóm, thảo luận, trao đổi kinh nhiệm để giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của kĩ thuật viên.
Ở Trung Quốc đòi hỏi giáo dục phải đào tạo những con người có tình yêu với Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, có năng lực thích ứng với đời sống xã hội, tham gia lao động xã hội và không ngừng trau đồi, tiếp thu tri thức mới, có tinh thần trách nhiệm. Do vậy, Trung Quốc đã triển khai chương trình hoạt động ngoài giờ lên lớp, coi hoạt động này là bộ phận hữu cơ của chương trình giáo dục phổ thông. Chương trình được “thiết kế dựa vào kế hoạch chương trình do Bộ giáo dục xây dựng và quán triệt yêu cầu của mục tiêu đào tạo, thể hiện hàm nghĩa bản chất và đặc điểm của chương trình hoạt động và phù hợp với tình hình thực tế của từng trường, từng địa phương” [dẫn theo 8]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Ở Australia, hoạt động giáo dục ngoài trời được coi là môn học trong chương trình giáo dục, được thực hiện xuyên suốt từ mẫu giáo đến cuối cấp học THPT.
Hoạt động này có sự kết hợp cùng các môn học khác như Giáo dục thể chất và Sức khỏe, Địa lý, Lịch sử, tiếng Anh…, thông qua đó HS hình thành ý thức tự lực, sự gắn kết với bạn bè, sự lãnh đạo. Hoạt động giáo dục trải nghiệm được thực hiện đồng thời với các chương trình môn học ở nhà trường, góp phần vào sự phát triển toàn diện HS. Chương trình giáo dục trải nghiệm của Hàn Quốc gồm bốn nhóm hoạt động chính: Hoạt động độc lập, hoạt động câu lạc bộ, hoạt động tình nguyện, hoạt động định hướng. Về hoạt động cụ thể trong từng nhóm, các trường ở Hàn Quốc lựa chọn và tổ chức thực hiện một cách linh hoạt để phù hợp với HS từng cấp học và điều kiện kinh tế - xã hội.
Trong đó, hoạt động trải nghiệm coi trọng các hoạt động thực tiễn mang tính tự chủ của HS, do vậy, ở Hàn Quốc, khi GV và HS cùng tham gia bàn bạc và nêu ý kiến hoặc tự HS xây dựng kế hoạch và phân chia công việc. Trong lĩnh vực GD và đào tạo, có thể kể đến công trình nghiên cứu sau: “Phong cách học tập và không gian học: Tăng cường học tập trải nghiệm trong GD đại học” (Learning Styles and 13 Learning Spaces: Enhancing Experiential Learning in Higher Education) (2005) của Kolb, KY, Kolb, DA: Các tác giả đã giới thiệu khái niệm về “không gian học tập như là một khuôn khổ cho sự hiểu biết giữa việc học tập của HS và môi trường thực tiễn, minh họa việc học tập trong khuôn khổ sử dụng một không gian nhất định và trình bày các nguyên tắc cho việc tăng cường học tập trải nghiệm trong giáo dục đại học. Vào cuối thế kỉ XX, các tác giả Guy Brauseau, Claude Comiti… của viện đào tạo GV (IUFM) ở Gremnoble (Pháp) đã đưa ra cấu trúc dạy học gồm 4 yếu tố: “người dạy - người học - nội dung - môi trường”. Trong đó môi trường là yếu tố quan trọng nhất, ở đó GV tạo ra những tình huống dạy học, còn HS dựa trên kinh nghiệm đã có tham gia giải quyết tình huống thực tế để từ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn đó hình thành tri thức.
“Cơ chế tác động giữa vai trò chủ đạo của thầy và sự tương tác kinh nghiệm của trò với môi trường góp phần thúc đẩy hoạt động của trò” [11, tr6]. Các nghiên cứu ở Việt Nam Nhóm tác giả Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Hằng, Tưởng Duy Hải, Đào Thị Ngọc Minh đã cho ra mắt cuốn: “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông”. Trong cuốn sách này, các tác giả đã tập trung vào 3 vấn đề: Hiểu thế nào về HĐTN; Đặc điểm cơ bản của HĐTN, trong đặc điểm cơ bản của HĐTN con người được trực tiếp tham gia vào các mối quan hệ giao lưu, dưới nhiều hình thức một cách tự giác; Con người có thể tự khám phá và đánh giá năng lực bản thân thông qua sự thử nghiệm, thể nghiệm từ trong các hoạt động thực tế; Con người là một phần của chu cảnh, một phần tử của bối cảnh trải nghiệm, vì thế có môi trường để con người có thể được tương tác, giao tiếp với nhau và tương tác với những đối tượng chung quanh của cuộc trải nghiệm; Trong cuộc trải nghiệm, con người là chủ thể tích cực, chủ động và sáng tạo; Kết quả của trải nghiệm là hình thành: “kinh nghiệm mới, tri thức mới, năng lực mới, thái độ mới” [15]. Tổ chức HĐTN trong nhà trường phổ thông với những nội dung hình thức, phương pháp, định hướng đánh giá tổ chức HĐTN.
Đặc biệt, cuốn sách đã trang bị cho cán bộ, GV phổ thông (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông) những kiến thức kĩ năng cơ bản về HĐTN. Vận dụng thiết kế HĐTN trong một số bài học cụ thể, đây được coi là một nội dung rất có giá trị thực tiễn cho GV khi vận dụng các thiết kế mẫu HĐTN theo các chủ đề vào quá trình tổ chức HĐTN trong các môn học cụ thể. Chương trình giáo dục phổ thông: Hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT- BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo [7], đã nhấn mạnh hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là hoạt động giáo dục do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, hiểu biết mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai. Năm 2018, hoạt động trải nghiệm được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể.
Chương trình đã xác định nội dung trải nghiệm của bậc tiểu học được lồng ghép vào môn học và hoạt động trải nghiệm bắt buộc như: Tiếng Việt, Toán, Đạo đức, Ngoại ngữ 1 (lớp 3,4,5); Tự nhiên và xã hội (lớp 1,2, 3); Lịch sử và địa lý (lớp 4,5); Khoa học (lớp 4,5); Tin học và công nghệ (lớp 3,4,5); Giáo dục thể chất; Nghệ thuật; Hoạt động trải nghiệm. Nội dung Chương trình được thiết kế thành các chủ đề; các em được lựa chọn học phần, chủ đề phù hợp với nguyện vọng của bản thân và khả năng tổ chức của nhà trường” [7]. Tác giả Võ Trung Minh trong luận án “Giáo dục môi trường dựa vào trải nghiệm trong dạy học môn Khoa học ở Tiểu học” đã đánh giá vai trò quan trọng của việc học tập dựa vào trải nghiệm, đánh giá thực trạng dạy học giáo dục môi trường ở tiểu học hiện nay chủ yếu dựa vào phương pháp dạy học truyền thống, dựa vào tranh ảnh và sách giáo khoa. Tác giả đã đề xuất các nguyên tắc, nội dung, quy trình và điều kiện để thực hiện giáo dục môi trường dựa vào trải nghiệm cho HS lớp 4, 5 trong môn Khoa học, đưa ra hướng dẫn rất cụ thể về xây dựng mẫu một số kế hoạch giáo dục môi trường dựa vào trải nghiệm [18].
Nhóm nghiên cứu hoạt động trải nghiệm dưới góc độ trải nghiệm sáng tạo. Tiêu biểu là công trình của Đinh Thị Kim Thoa, nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm sáng tạo - Góc nhìn từ lý thuyết “học từ trải nghiệm”, trong đó Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn nhấn mạnh việc tổ chức hoạt động giáo dục trong trường học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh đã khai thác vai trò của hoạt động trải nghiệm và các biện pháp tăng cường hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong các trường phổ thông [22]. Một loạt bài viết của tác giả Đinh Thị Kim Thoa về các vấn đề như mục tiêu, nội dung chương trình và cách đánh giá của hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Bên cạnh đó tác giả cũng đã xác định mục tiêu, đề xuất nội dung, các tiêu chí đánh giá mục tiêu năng lực hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh phổ thông [23]; kỹ năng xây dựng các hoạt động trải nghiệm [24].
Nguyễn Thị Thế Bình trong bài viết “Tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học lịch sử ở trường phố thông” đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm trong môn Lịch sử, tác giả đưa ra quy thiết kế hoạt động trải nghiệm trong dạy học Lịch sử gồm các bước: Lập kế hoạch, thiết kế hoạt động trải nghiệm, tổ chức HĐTN và đánh giá HĐTN, tác giả đi đến kết luận “Để HĐTN trong dạy học Lịch sử đạt hiệu quả tốt, đòi hỏi GV bộ môn phải không ngừng trau dồi kiến thức chuyên môn sâu, rộng, có nghiệp vụ sư phạm vững vàng, biết vận dụng linh hoạt và sáng tạo các phương pháp, phương tiện, kĩ thuật dạy học” [3].