CHƯƠNG 1 CƠ SO LÝ LUẬN VA TONG QUAN DIA BAN NGHIÊN CỨU 1. Co sở ly luận 1. Một số khái niệm chung về quản ly tín ngưỡng Tín ngưỡng có vai trò quan trọng trong đời sống tỉnh thần của con người, nó phản ánh được niềm tin, ước vọng của con người từ xưa đến nay, không những thế, tín ngưỡng còn là hiện tượng văn hoá độc đáo, thể hiện quan niệm thế giới tâm linh riêng của mỗi tộc người. Trong Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2004) có quy định như sau: “Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công VỚI nước, VỚI cong dong; thờ cúng thân, thánh, biểu tượng có tính truyền thong và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội ”.
Có thé thấy, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo 2004 là một văn bản pháp quy nén tảng cho mọi văn ban nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, và hoạt động quản lý văn hoá sau này. Dang và Nhà nước ta luôn coi trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cua mọi công dân. Coi tín ngưỡng, tôn giáo là một nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Tín ngưỡng, tôn giáo còn tồn tai lâu dai trong quá trình xây dựng và củng cố Việt Nam đi lên xã hội chủ nghĩa.
Luật di sản văn hoá, Quốc hội khoá X kỳ họp thứ 9 đã ban hành năm 2002. Quy định khoản 1 điều 4:“Di sản văn hoá phi vật thé là sản phẩm tỉnh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm 14 văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lỗi sống, nếp song, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thong, tri thức về y, được học cổ truyén, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và tri thức dân gian ”. Luật di sản văn hóa năm 2001 được sửa đôi, bố sung năm 2009 đã phản ánh và kết tinh được tư duy của thời đại về di sản văn hóa vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam. Tại khoản 1, khoản 2 điều 2, của Luật Tín ngưỡng và tôn giáo 2016 có nêu: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghỉ gắn lién với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh than cho cá nhân và cộng đông", và "Hoạt động tin ngưỡng là hoạt động thờ cúng tổ tiên, các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng; các lễ nghỉ dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo duc xã hội”.
Như vậy có thé hiểu: Tín ngưỡng và sinh hoạt tín ngưỡng là một trong những nhu cầu quan trọng của cộng dong, thé hiện sự tôn thờ những nhân vật có vai trò quan trọng trong cộng dong. Quản lý tín ngưỡng là hoạt động liên tục, không ngắt quãng, sử dụng các công cụ là pháp luật để quản lý nham mang lại hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về văn hóa. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác quản lý hoạt động tín ngwong. Đảng và Nha nước sau thời kì đổi mới càng tích cực quan tâm tới hoạt động tín ngưỡng tôn giáo thông qua nội dung các nghị quyết, hiến pháp, sắc lệnh, luật.
Quan điểm về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng được thê hiện ở tất cả các kỳ Đại hội. Trải qua 12 kỳ Đại hội, Đảng Cộng sản luôn có những quan điểm về tín ngưỡng, tôn giáo nhất quán, và thay đôi thích ứng, linh hoạt với từng thời kỳ khác nhau. 15 Tại hiến pháp 1946 cũng đã ghi rõ: “Mọi công dân Việt Nam có quyên tự do tín ngưỡng. Trên cơ sở quy định của Hién pháp”.
Tại Đại hội lần thứ IX, lần thứ nhất, quan điểm của Đảng là “từng bước “hoàn thiện luật pháp” về tín ngưỡng, tôn giáo. Dai hội XI đã có sự thay đối trở thành “tiếp tục” hoàn thiện luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo. Tại Đại hội XII, một lần nữa Đảng ta lại nhấn mạnh việc “tiếp tục” hoàn thiện luật pháp và chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo. Có thé thấy việc hoàn thiện luật pháp và chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo rất cần thiết trong thời đại mới.
Ngày 12 tháng 3 năm 2003, số 25-NQ/TW, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo đã khẳng định vai trò của Tôn giáo tín ngưỡng đối với sự nghiệp đoàn kết kháng chiến của toàn dân ta giành độc lập. Qua đó cũng nêu rõ quan điểm của Dang: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cau tinh than của một bộ phận nhân dân” va khang định, nếu như Tôn giáo, tin ngưỡng có hành đạo phù hợp với ” pháp luật Nhà nước, phù hợp với hiến pháp, đảm bảo đạo đức. sẽ được xem xét từng trường hợp cụ thé, dé hoạt động và phát triển. Như vậy có thé thấy, Nhà nước sau đổi mới, vừa đây mạnh phát triển kinh tế nhưng không quên chăm lo đời sống nhân dân, nhất là mặt văn hóa, đặc biệt là tạo điều kiện cho lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng được khôi phục và phát trién.
Năm 1989, Bộ Văn hóa ban hành quy chế số 54-VHQC về việc mở hội truyền thống dân tộc, cho phép các làng xã đăng ký với chính quyền đề mở lễ hội. Ngày 18/11/2016, Quốc hội đã thông qua “Luật Tín ngưỡng, tôn giáo” có hiệu lực từ ngày 1/1/2018. Ngày 30/12/2017, Chính phủ ban hành Nghị định “Quy định chỉ tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo ””. Tại điều 25, chương 2, luật Di sản văn hoá 2002 có nêu: “Nhà nước tạo điều kiện duy trì và phát huy giá trị văn hoá của các lễ hội truyén thống; bài 16 trừ các hu tuc và chống các biểu hiện tiêu cực, thương mại hoá trong tổ chức và hoạt động lễ hội.
Việc tổ chức lễ hội truyền thống phải theo quy định của pháp luật". Thông qua luật tôn giáo tín ngưỡng đã có những thay đổi nhất định về cách nhìn nhận và công tác quản lý hoạt động tôn giáo tín ngưỡng nước ta những năm gần đây. Luật tôn giáo, tín ngưỡng đã điều chỉnh được hành vi của các các nhân, tổ chức trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng và đảm bảo được quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, duy trì sự ôn định và phát trién bền vững của đất nước. Mỗi một mặt trong đời sống văn hóa, Đảng và nhà nước lại có những pháp chế cụ thé dé đảm bảo tinh đúng đắn và định hướng sự phát triển văn hóa đi đúng với pháp luật, hiến pháp của đất nước.
Sinh hoạt tín ngưỡng đang ngày càng phát triển với quy mô, tần suất, số lượng càng lớn, đa dạng phong phú. Quy chế mở hội truyền thống dân tộc (1989), Quy chế tổ chức lễ hội (1994), Quy chế tổ chức lễ hội năm 2001, ban hành theo quyết định số 39/2001/QD-BVHTT của Bộ Văn hóa Thông tin ngày 23 tháng 8 năm 2001 là một trong những quy chế chặt chẽ nhất về vấn đề tổ chức lễ hội ở nước ta hiện nay. Mở rộng đối tượng với 4 dạng lễ hội, thêm 4 điểm nghiêm cắm (trước đây có 2 dạng lễ hội và 2 điểm nghiêm cam), các lễ hội địa phương nhỏ lẻ, tổ chức thường xuyên thì sẽ do các đơn vị cấp xã địa phương quản lý cấp phép trong vòng 10 ngày được tổ chức. Tuy vậy, quy chế cũng có những mặt hạn chế nhất định, các điều khoản được lập lên dựa trên những tiêu chí chung và áp dụng máy móc, một vài chỗ chưa phù hợp lắm.
Xây dựng thang đo (bộ tiêu chíứcông cụ đánh giá) cho hoạt động quản lý tín ngưỡng Đông Xên — Thiêng Công ở Sơn Lương. Trong trường hợp quản lý hoạt động của tín ngưỡng Đông Xén — Thiêng Công trong cộng đồng người Thái ở xã Sơn Lương. Chúng tôi đề 17 xuất thang đo/công cụ đánh giá trên cơ sở tham khảo các văn bản pháp luật của Nhà nước cũng như các văn bản pháp lý của địa phương. Bộ thang đo/công cụ đánh giá này sẽ chỉ ra được mức độ quản lý của chính quyền các cấp và các cơ quan chuyên môn của địa phương.
Bên cạnh đó, còn cho thấy mức độ dap ứng hoặc thực hiện — tuân thủ các chính sách quản lý của người dân địa phương (chủ thé tín ngưỡng). Chính vì vậy, bộ thang đo/công cụ đánh giá cho trường hợp nghiên cứu này được thực hiện trên một số vấn đề tiêu biểu sau: ĐÁNH GIÁ HOAT ĐỘNG QUAN LÝ TÍN NGUONG ĐÔNG XEN - THIÊNG CÔNG Ở SƠN LƯƠNG Diễn | Ghi Mức độ đánh giá TT | Nội dung đánh giá Giải Chú Tốt | Khá | TB | Yếu I1 | Nhân sự và quản lý nhân sự Số lượng, chất lượng nhân sự ở các cap ? Phân câp quản lý ở các câp có bị chồng chéo nhau không? tô chức thực hiện quản lý: đại diện chủ thể tín ngưỡng, chính quyền địa phương các cấp? Đánh giá mức độ tham gia 2 |của chủ thể lễ hội/ lễ thức/thực hành tín ngưỡng Có thực hiện theo đúng quy định nhà nước không? Có thực hiện đầy đủ văn bản 18 chỉ đạo của cơ quan quản lý? Chủ thê hợp tác với các đoàn/ hội/ tô thanh - kiểm tra như thê nào? 3 | Bai hoc rút kinh nghiệm Sau khi kết thúc lễ hội/ nghỉ lễ các cơ quan quản lý có tiến hành trao đồi rút kinh nghiệm không? Đối với tiêu ban quản lý có họp rút kinh nghiệm và báo cáo cơ quan quản lý tại địa phương không? Bảng hỏi trên đây chỉ là khái quát những van dé cần phải đánh giá cho hoạt động quản lý tín ngưỡng Đông xên — Thiêng công tại xã Sơn Luong dé xây dựng thang đo. Từng vấn dé lớn (tổng thể) này được phân chia thành những nội dung nhỏ (chỉ tiết), tôi sẽ cụ thể hóa băng các bảng công cụ đánh giá chỉ tiết trong chương 2. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và tín ngưỡng thờ Đông xén- Thiêng công của người Thái ở xã Sơn Lương 12.
Tổng quan địa bàn nghiên cứu + Điều kiện tự nhiên Sơn Lương là một xã vùng thấp của huyện Văn Chan, tỉnh Yên Báicó tổng diện tích đất tự nhiên là 2.