Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động học tập trên lớp của học sinh tiểu học. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động học tập trên lớp của học sinh các trường Tiểu học quận Thanh Xuân, Hà Nội. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động học tập trên lớp của học sinh các trường Tiểu học quận Thanh Xuân, Hà Nội. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TRÊN LỚP CỦA HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.
Hoạt động học tập trên lớp của học sinh tiểu học 1.1 Học sinh tiểu học Căn cứ vào Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30-12- 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ trường tiểu học, học sinh tiểu học được quy định trong điều 40, 41 và 42 như sau: Điều 40. Tuổi của học sinh tiểu học 1. Tuổi của học sinh tiểu học từ 6 đến 14 tuổi (tính theo năm). Tuổi vào học lớp 1 là 6 tuổi; trẻ em khuyết tật, trẻ em ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, trẻ em người dân tộc thiểu số, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em trong diện hộ nghèo theo quy định của Nhà nước, trẻ em ở nước ngoài về nước có thể vào học lớp một ở độ tuổi từ bảy đến chín tuổi.
Học sinh có thể lực tốt và phát triển sớm về trí tuệ có thể được học vượt lớp trong phạm vi cấp học. Thủ tục thực hiện xem xét đối với từng trường hợp cụ thể như sau: a) Cha mẹ hoặc người giám hộ học sinh có đơn đề nghị với nhà trường; b) Hiệu trưởng nhà trường thành lập hội đồng khảo sát, tư vấn, gồm: các đại diện của Ban giám hiệu và Ban đại diện cha mẹ học sinh của trường; giáo viên dạy lớp học sinh đang học, giáo viên dạy lớp trên, nhân viên y tế, Tổng phụ trách Đội; c) Căn cứ kết quả khảo sát của Hội đồng tư vấn, Hiệu trưởng xem xét quyết định. Học sinh trong độ tuổi tiểu học từ nước ngoài về nước, con em người nước ngoài làm việc tại Việt Nam được học ở trường tiểu học tại nơi cư trú hoặc trường tiểu học ở ngoài nơi cư trú nếu trường đó có khả năng tiếp nhận. Thủ tục thực hiện như sau: a) Cha mẹ hoặc người giám hộ học sinh gửi đơn đề nghị với nhà trường; b) Hiệu trưởng trường tiểu học tổ chức khảo sát trình độ của học sinh và xếp vào lớp phù hợp.
Học sinh lang thang cơ nhỡ học ở lớp ngoài nhà trường dành cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn nếu có nguyện vọng chuyển đến học tại lớp trong trường tiểu học thì được Hiệu trưởng trường tiểu học khảo sát trình độ để xếp vào lớp phù hợp. Nhiệm vụ của học sinh 1. Thực hiện đầy đủ và hiệu quả nhiệm vụ học tập, chấp hành nội quy nhà trường, đi học đều, đúng giờ, giữ gimf sách vở và đồ dùng học tập rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường; chăm học, chăm làm, tích cực tham gia các hoạt động giáo dục. Hiếu thảo với cha mẹ, ông bà; kính trọng, lễ phép với thầy giáo, cô giáo và người lớn tuổi; đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ bạn bè, em nhỏ, người già, người khuyết tật và người có hoàn cảnh khó khăn.
Rèn luyện thân thể, giữ vệ sinh cá nhân.Tham gia các hoạt động học tập trong và ngoài giờ lên lớp, bảo vệ tài sản nơi công cộng, tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, thực hiện trật tự an toàn giao thông. Góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà trường, địa phương. Quyền của học sinh 1. Được học ở một trường, lớp hoặc cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học tại nơi cư trú; được chọn trường ngoài nơi cư trú nếu trường đó có khả năng tiếp nhận.
Được học vượt lớp, học lưu ban; được xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học theo quy định. Được bảo vệ, chăm sóc, tôn trọng và đối xử bình đẳng; được cung cấp đầy đủ thông tin về việc học tập, rèn luyện của mình; được đảm bảo những điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất, vệ sinh, an toàn để học tập và rèn luyện. Được tham gia các hoạt động nhằm phát triển năng khiếu; được trực tiếp bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về việc xây dựng nhà trường và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của học sinh; được chăm sóc và giáo dục hòa nhập (đối với học sinh khuyết tật) theo quy định. Được nhận học bổng và được hưởng chính sách xã hội theo quy định.
Được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật. Như vậy học sinh tiểu học là các em học sinh trong độ tuổi từ 6 đến 11 tuổi đang tham gia học tập từ lớp 1 đến lớp 5 ở các trường tiểu học công lập hoặc tư thục. 10 Ở lứa tuổi này các em đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội , các em đang từng bước gia nhập vào xã hội thế giới của mọi mối quan hệ. Do đó, học sinh tiểu học chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã hội, mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của gia đình, nhà trường và xã hội.
Học sinh tiểu học dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tương lai. Nhưng cũng thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ định chưa được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét. Trẻ nhớ rất nhanh và quên cũng nhanh. Đồng thời ở lứa tuổi tiểu học thì tri giác của học sinh tiểu học phản ánh những thuộc tính trực quan, cụ thể của sự vật, hiện tượng và xảy ra khi chúng trực tiếp tác động lên giác quan.
Tri giác giúp cho trẻ định hướng nhanh chóng và chính xác hơn trong thế giới. Tri giác còn giúp cho trẻ điều chỉnh hoạt động một cách hợp lý. Trong sự phát triển tri giác của học sinh, giáo viên tiểu học có vai trò rất lớn trong việc chỉ dạy cách nhìn, hình thành kỹ năng nhìn cho học sinh. Bên cạnh sự phát triển của tri giác, chú ý có chủ định của học sinh tiểu học còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý có ý chí chưa mạnh.
Vì vậy, việc sử dụng đồ dùng dạy học là phương tiện quan trọng để tổ chức sự chú ý cho học sinh. Nhu cầu hứng thú có thể kích thích và duy trì chú ý không chủ định cho nên giáo viên cần tìm cách làm cho giờ học hấp dẫn để lôi cuốn sự chú ý của học sinh. Trí nhớ có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống và hoạt động của con người, nhờ có trí nhớ mà con người tích lũy vốn kinh nghiệm đó vận dụng vào cuộc sống. Đối với học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ – logíc.
Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể. Trong sự phát triển tư duy ở học sinh tiểu học, tính trực quan cụ thể vẫn còn thể hiện ở các lớp đầu cấp và sau đó chuyển dần sang tính khái quát ở các lớp cuối cấp. Trong quá trình dạy học và giáo dục, giáo viên cần nắm chắc đặc điểm này Học sinh tiểu học thường có nhiều nét tính cách tốt như hồn nhiên, ham hiểu biết, lòng thương người, lòng vị tha. Giáo viên nên tận dụng đặc tính này để giáo dục học sinh của mình nhưng cần phải đúng, phải chính xác, đi học đúng giờ, làm việc theo hướng dẫn của giáo viên trong môi trường lớp ghép.
Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lý, nhân cách của mỗi người. Đối với học sinh tiểu học, tình cảm có vị trí đặc biệt vì nó là khâu trọng yếu gắn nhận thức với hoạt động của trẻ em. Tình cảm tích cực sẽ kích thích trẻ em nhận thức và thúc đẩy trẻ em hoạt động. Tình cảm học sinh tiểu học được hình thành trong đời sống và trong quá trình học tập của các em.
Vì vậy giáo viên dạy học lớp ghép cần quan tâm xây dựng môi trường học tập nhằm tạo ra xúc cảm, tình cảm tích cực ở trẻ để kích thích trẻ tích cực trong học tập. Đặc điểm tâm lí của học sinh dân tộc thể hiện ở tư duy ngôn ngữ – logíc dừng lại ở mức độ trực quan cụ thể. 11 Ngoài ra tâm lí của học sinh tiểu học còn bộc lộ ở việc thiếu cố gắng, thiếu khả năng phê phán và cứng nhắc trong hoạt động nhận thức. Học sinh có thể học được tính cách hành động trong điều kiện này nhưng lại không biết vận dụng kiến thức đã học vào trong điều kiện hoàn cảnh mới.2 Hoạt động học tập trên lớp Học tập trên lớp là một khâu rất quan trọng không thể thiếu trong quá trình học tập của HS.
Hoạt động này giúp HS củng cố, hệ thống hóa kiến thức và phát triển tư duy nâng cao khả năng vận dụng kiến thức trong học tập. Để nâng cao hiểu quả học trên lớp HS cần có sự phối hợp linh hoạt bốn kỹ năng Đọc, nghe, nói và viết các kỹ năng này có quan hệ mật thiết và bổ trợ cho nhau trong quá trình học trên lớp của HS, Học trên lớp hiệu quả sẽ giúp ích cho việc tiếp thu kiến thức của HS trên lớp mà còn giúp HS rất nhiều trong quá trình học tập và tiếp thu tri thức của HS. - Theo Từ điển Tiếng Việt: “Hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội.[45, tr210] - Theo Từ điển Tiếng Việt: “Học và luyện tập để hiểu biết, để có kỹ năng. Chăm chỉ học tập.[45, tr220] - Học tập trên lớp theo tiếp cận theo quan điểm hệ thống thì các nhà quản lý giáo dục cho rằng: “Việc học tập trên lớp là một quá trình học tập, quá trình này bao gồm: Chuẩn bị trước khi lên lớp, lên lớp và sau khi lên lớp.
- Nội dung chính của hoạt động học tập trên lớp chính + Hoạt động ghi chép bài Ghi chép hiệu quả không chỉ là ghi âm hay chép lại. Đó là một phần chủ động của quá trình học tập, đòi hỏi sự tiếp thu kiến thức một cách nhanh chóng và viết lại những điểm chính theo cách thức phù hợp với phong cách học của mỗi học sinh.