Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý GDTC theo định hướng phân hóa học sinh ở trường THPT Chương 2: Thực trạng quản lý GDTC theo định hướng phân hóa học sinh ở các trường THPT huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Chương 3: Biện pháp quản lý GDTC theo định hướng phân hóa học sinh ở các trường THPT huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Chuong 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY HOAT DONG GIAO DUC THE CHAT THEO DINH HUONG PHAN HOA HOC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HOC PHO THONG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về giáo dục thể chất và quản lý giáo dục thể chất theo định hướng phân hóa học sinh ở một số nước trên thế giới Thể dục thể thao xuất hiện từ thời nguyên thủy xa xưa, bắt nguồn từ cuộc sông lao động sản xuất hàng ngày đề chống lại thiên nhiên, thú dữ, duy trì và bảo tồn nòi giống, một số môn thể dục thê thao xuất hiện bắt nguồn từ các trò chơi nhằm mục đích giải trí. Trong xã hội thị tộc giáo dục thể chất đã có mức phát triển cao, theo các tài liệu dân tộc học, GDTC đã có ở tất cả các bộ tộc. Đặc điểm chung về giáo dục thê chất ở tất cả các bộ lạc trong xã hội thị tộc là: Các bài tập TDTT không những nhằm phát triển các phẩm chat thể lực mà còn giáo dục tính kiên cường và ý chí.
Vì thế các môn chạy, nhảy, ném, vật, mang vác nặng, trò chơi với bóng được phát triển rộng rãi. Trong thời kỳ cô đại giáo dục thê chat cũng phát triển theo sự phát triển chung của TDTT, tiêu biểu trong thời kỳ này phải kế đến hai hệ thống giáo dục thê chất của Xpactơ và Aten [29]. Hệ thống giáo dục thể chất ở Xpáctơ người ta chú ý đến rèn luyện thể chất cho trẻ em từ tuổi ấu thơ. Còn trong hệ thống giáo dục thể chất ở Aten, giáo dục thâm mỹ, ca hát âm nhạc có ý nghĩa rất to lớn.
Điểm chung của hai hệ thống giáo dục thê chat Xpacto va Aten là con trai từ 14 đến 16 tuổi phải xa gia đình và được học trong trường trung học. Ở đó thanh niên được huấn luyện đặc biệt về thê chất là chạy, nhảy, ném, vật, ném lao. Như vậy mục đích chính của hai hệ thống giáo duc thé chat nay là đào tạo các chiến binh. Ở thời kỳ trung cô đã có một số nhà nhân đạo chủ nghĩa cố gắng áp dụng trong thực tiễn những tư tưởng của mình về giáo dục thê chất.
Tiêu biểu là Vittorino (1378 - 1446) ông đã tô chức một trường học kiêu mới gọi là “Nhà vui sướng” giáo dục thể chất được đưa vào kế hoạch học tập của nhà trường dưới dạng trò chơi, các bài tập thể chất, học đấu kiếm, bơi, cưỡi ngựa, thực hiện các quy tắc về vệ sinh. Nhà văn Pháp Phran Xoarable (1494 - 1553) đã coi trọng ý nghĩa to lớn của giáo dục thê chất, ông đề nghị luân phiên giờ học về trí óc với tập luyện thân thể. Ông khuyên nên sử dụng các trò chơi, các bài tập vốn có trong đời sống nhân dân như chạy, nhảy, ném, bơi, leo trèo, cưỡi ngựa, chèo thuyễn. Cũng trong thời kỳ này đã xuất hiện một số quyền sách giáo khoa đầu tiên trong lĩnh vực giáo dục thê chất.
Trong đó đáng kề nhất là tác phẩm “Về nghệ thuật thể dục” của thầy thuốc Mercurainil (1530 - 1606). Như vậy đến đầu thế kỷ XVII đã hình thành những nền tảng khá cơ bản cho sự phát triển sau này của khoa học giáo dục thê chất trong thời kỳ này còn hết sức hạn chế. Giáo dục thể chất chỉ có một số trường dành cho con em những đăng cấp có đặc quyền, hơn nữa lại không theo một hệ thống nào cả [30]. Đến thời kỳ cận đại đã xuất hiện và phát triển hệ thống giáo dục thể chất ở một số quốc gia Châu âu như Đức, Pháp, Thụy Điển.
Hệ thống giáo dục thê chất của nước Đức cho rằng phương tiện để giảng dạy giáo dục thê chất bao gồm các bài tập để phát triển các giác quan chủ yếu trong trong lúc tham gia các trò chơi, các bải tập mang vác nặng, các trò chơi giải trí, các bài tập cưỡi ngựa, đấu kiếm, nhảy múa. Ở hệ thống giáo dục thể chất Thụy Điển, giáo dục thê chất được xây dựng dựa trên sáng kiến của chính phủ và được giao cho giáo sư Per Lingơ và sau đó là con trai ông là Lalmar Lingơ là người sáng lập hệ thống giáo dục thể chất. Hai cha con ông cho rằng giáo dục thé chat can được áp dụng những bài tập có thể tăng cường và phát triển thân thể. Hệ thống giáo dục thé chat Pháp do đại tá Phran xixco Amôrooxx là người kế tục, ông đã có công lớn trong hệ thống bài tập thê dục có tính chất ứng dụng quân sự, hệ thống giáo dục của ông còn chưa thích hợp để đưa vào các giờ học của trường học.
Các nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng như Sáclophuariê đã chỉ rõ bản chất đối kháng của xã hội tư bản không có sự ăn khớp của các biện pháp giáo dục và giáo dưỡng với nhu cầu trẻ em, coi thường GDTC. Theo ông, trẻ em từ 5 đến 9 tuổi phải tham gia vào các trò chơi được rèn luyện về thê chất, từ 9 đến 15, 16 tuôi, việc học tập của trẻ phải biết kết hợp với GDTC và lao động. Nhà chủ nghĩa không tưởng Anh Roobeôven là người quản lý nhà máy giấy. Ông đã mở trường cho con em công nhân nhà máy, tại đây trẻ em được học phô thông và được giáo dục thê chất, giờ học được kết hợp với lao động.
CMác và Ăng Ghen đánh giá rất cao kinh nghiệm hoạt động giáo dục thê chất của Ôven với việc đưa giáo dục của ông vào trường. Mác đã nhìn thấy mầm mống của nền giáo dục tương lai đối với tất cả trẻ em. Lao động sản xuất kết hợp với giáo dục và giáo dục thé chat đã được đề ra CMác viết răng: “Nên giáo dục đó không những là một trong những biện pháp trong của cải xã hội mà còn là biện pháp duy nhất để tạo ra những con người phát triển toàn điện” [31]. Trong giai đoạn hiện đại, việc xây dựng giáo dục thể chất đã được các nước ở Trung và Đông nam Châu Âu (1947 - 1948) tạo điều kiện phát triển.
Một số nước đã thông qua quyết định rất cụ thể về giáo dục thể chất như Bungari, Ba Lan, Rumani (1949) Cộng hòa dân chủ Đức, Tiệp Khắc (1952) ở Hunggari phòng thể thao của hồng quân Hungsari đã được thành lập và bắt đầu cải cách thê chất cho học sinh. Tại nước Đức nền giáo dục thể chất được tổ chức đúng và rộng rãi. Năm 1917, Ủy ban Nhà nước Đức về tập luyện giáo dục thê chất được thành lập. Năm 1920 ở Beclin đã mở các trường Trung học phổ thông và Cao đăng đề rèn luyện thân th.
Ngày nay, nhờ sự phát triển kinh tế - chính trị - xã hội, giáo dục thê chất ở các nước trên thế giới được chính phủ các quốc gia quan tâm. Hệ thống giáo dục thể chất được đưa vào học chính môn từ bậc tiểu học đến đại học. Ở bậc Trung học phổ thông giáo dục thê chất phát triển rất mạnh thể hiện ở số tiết học thê dục. Ví dụ như ở nước Nga thực hiện 6 tiết/tuần; ở Đức, Pháp, Trung Quốc 4 tiết/tuần.
Cơ sở vật chất - thiết bị dạy học - dụng cụ tập luyện được trang bị đầy đủ, học sinh được học và tập luyện trong môi trường và điều kiện hiện đại, đội ngũ giáo viên thể dục được đào tạo chính quy đảm bảo chuẩn và vượt chuẩn có năng lực trong công tác tô chức huấn luyện, trọng tài và thi dau. Một số nước giáo dục thé chat khong hoc theo chuong trinh bắt buộc ma theo phuong phap tu chon (hoc sinh thich hoc mén TDTT nao, thi giao vién day va hướng dẫn học sinh học và tập môn TDTT đó). Vì vậy giáo dục thê chất ở các nước trên thế giới rất phát triển, là nơi phát hiện ra những tài năng TDTT của quốc gia trên thế giới tăng nhanh góp phần hoàn thiện nhân cách học sinh THPT, đào tạo nhân tài cho đất nước. Những nghiên cứu về giáo dục thể chất và quản lý giáo dục thể chất theo định hướng phân hóa học sinh ở Việt Nam Ở Việt Nam, giáo dục thé chat phat triển chậm hơn so với các nước trên thế giới.
Sau cách mạng tháng § năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khai sinh ra nền TDTT mới vì dân vì nước, Người đã đề xướng từ năm 1941 “Khuyến khích và giúp đỡ nền thể dục quốc dân làm nòi giống ngày càng thêm mạnh” [32]. Tháng giêng năm 1946 trong lúc nhân dân ta đang ra sức xây dựng nước Việt Nam mới và quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng, Bác Hồ đã thành lập ngành TDTT tháng 3 năm 1946, Bác Hồ đến châm ngọn đuốc truyền thống tại ngày hội “Thanh niên vận động”. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp nền TDTT mới được hình thành và phát triển thì phải tạm thời dừng lại. Sau ngày hòa bình lập lại (1954), Đảng và Nhà nước ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tô chức lại ngành TDTT và phát triển nền TDTT vì dân vì nước[32].
Giai đoạn cải tạo xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực TDTT, giáo dục thể chất được đặc trưng ở việc hoàn thiện quản lý TDTT; thành lập các Ủy ban về TDTT đã thúc đây hoạt động của các ngành trong việc tổ chức GDTC và đã vạch ra những nguyên lý thống nhất để xây dựng quá trình giảng dạy, huấn luyện GDTC cho học sinh THPT. Việc đưa GDTC vào các chương trình học ở các trường phổ thông đã được quan tâm. Năm 1962 chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thông qua Nghị định về “Chế độ rèn luyện thân thể theo tiêu chuẩn”. Việc đó đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện cơ sở chương trình và tiêu chuẩn của hệ thống GDTC xã hội chủ nghĩa Việt Nam, GDTC là bộ phận khăng khít của quá trình giáo dục.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, tại điều 41 có quy định: Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển TDTT, quy định về chế độ GDTC bắt buộc trong trường học, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức TDTT tự nguyện của nhân dân, tạo điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các giáo dục thể chất theo định hướng phân hóa học sinh quần chúng, chú trọng hoạt động thê thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao [33].