CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Có thể nói, các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến việc giáo dục đạo đức, nhân cách và ý thức pháp luật cho học sinh - sinh viên. có rất nhiều các nghiên cứu về giáo dục pháp luật công bố trong các hội thảo khoa học, các tài liệu nghiên cứu lý luận và thực tiễn: Năm 2006 tại Pháp đã diễn ra hội thảo khoa học quốc tế “Giáo dục pháp luật trong thời đại toàn cầu” bàn về giáo dục pháp luật (mục tiêu, nội dung, hình thức, sự đa dạng hóa giáo dục pháp luật.) nhằm đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa, cần phải phổ biến giáo dục pháp luật quốc tế cùng với giáo dục pháp luật quốc gia [1]. Trường đại học Westininster London (Anh) năm 2011 công bố “nghiên cứu về giáo dục pháp luật trong bối cảnh toàn cầu” các nghiên cứu tập trung vào thách thức mà giáo dục pháp luật đối mặt với toàn cầu, các quan hệ và sự thay đổi hệ thống pháp luật của Chính phủ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy cần có sự thay đổi chiến lược giáo dục pháp luật cho phù hợp với tình hình mới. [2] Tại Seunl (Hàn Quốc) năm 2012 hội thảo khoa học quốc tế “giáo dục pháp luật ở Châu á trong bối cảnh toàn cầu hóa và nhà nước pháp quyền”. Các bản tham luận tham gia hội thảo đều có nhận định chung về vai trò giáo dục pháp luật trong việc thúc đẩy xây dựng thị trường ổn định, tạo cơ sở pháp lý cho sự bình đẳng về cơ hội phát triển con người, phúc lợi và công bằng xã hội [3].A đã đưa ra các nghiên cứu lý luận về giáo dục pháp 6 luật cho học sinh trung học cơ sở Liên Bang Nga, tác giả nêu ra: mô hình giáo dục pháp luật phù hợp với giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở, chỉ ra các điều kiện, các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục pháp luật và đưa ra các kiến nghị đổi mới cách thức, hình thức, phương pháp dạy học pháp luật ở trường cơ sở. Tại nhiều nước đã rất chú trọng đưa chương trình GDCD vào trường học bằng nhiều nội dung và hình thức phong phú, phù hợp với môi trường giáo dục của từng quốc gia.
Tập trung nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về các vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường và ngoài xã hội. Giáo dục pháp luật góp phần hình thành, nâng cao hệ thống tri thức pháp luật cho học sinh, sinh viên, hình thành lòng tin pháp luật. Giáo dục pháp luật chính là tăng cường khả năng tự bảo vệ của chủ thể trước những tác động bất thường của cuộc sống. Giáo dục pháp luật giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, là cầu nối để đưa pháp luật vào cuộc sống.
Sự hiểu biết sâu về pháp luật là nhân tố đặc biệt quan trọng, giúp cho chủ thể nhân cách tự ý thức được trách nhiệm pháp lý đối với hành vi của mình. Đối với học sinh là thế hệ trẻ, là lực lượng xã hội to lớn, là nguồn nhân lực dồi dào cho sự phát triển của đất nước. Giáo dục pháp luật được tiến hành sớm sẽ giúp họ có những nhận thức cơ bản về pháp luật, nâng cao khả năng tư duy pháp lý, tránh được hành động bột phát, gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Giáo dục pháp luật cho học sinh là biện pháp tích cực để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên.
Giáo dục pháp luật được tiến hành thường xuyên, sâu rộng là yếu tố quan trọng góp phần hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ. Trong giai đoạn hiện nay, cần nâng cao hơn nữa công tác quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh nhằm bồi dưỡng và tạo điều kiện cho học sinh phát triển toàn diện, có ý thức trách 7 nhiệm công dân, hiểu biết và chấp hành nghiêm các Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước góp phần tạo dựng một môi trường trong trường học lành mạnh là một nhiệm vụ cần thiết và cấp bách. Giáo dục pháp luật nói chung và quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh nói riêng đã được quy định trong một số văn bản của Đảng, Nhà nước, ngành Giáo dục -Đào tạo như: Chỉ thị 32/CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức của cán bộ, nhân dân. [4] Quốc hội (2012), Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.
Thời gian qua, một số tác giả cũng đã nghiên cứu về vấn đề này như: Lâm Thị Ngọc Vân (2012), Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại trường THCS, Lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng công tác pháp chế ngành giáo dục và đào tạo, Trường Cán Bộ Quản lý Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh [6]. Đặng Văn Khánh (2015), “Biện pháp quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh các trường phổ thông huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Quy Nhơn [9 ] Trần Thị Lệ Như (2017), “Quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Quy Nhơn [10 ]. 8 Trần Ngọc Đường, Dương Thị Thanh Mai (1995, 2010), “Bàn về giáo dục pháp luật”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Hai tác giả đã công bố các kết quả nghiên cứu khá toàn diện, công trình này cung cấp những kiến thức cơ bản, quan trọng về giáo dục pháp luật và là cơ sở tư liệu quan trọng để các nhà nghiên cứu tham khảo để nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục pháp luật cho học sinh [11 ].
Với các nghiên cứu đã có, có thể thấy rằng lý luận về GDPL nói chung và ở trường THCS nói riêng đã được nghiên cứu đầy đủ, làm cơ sở vững chắc cho những nghiên cứu về sau; đồng thời cũng đã có rất nhiều kinh nghiệm tốt trong nghiên cứu thực tiễn. Tuy nhiên, ở huyện Vĩnh Thạnh thì chưa có tác giả nào nghiên cứu chi tiết về nội dung này; do đó tác giả chọn đề tài này có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn ở địa bàn nghiên cứu cụ thể 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Quản lý Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với với con người và xã hội từ đó xảy ra mâu thuẫn và tranh giành quyền lực.
Điều này làm nảy sinh nhu cầu quản lý. Ngày nay nhiều người thừa nhận rằng quản lý trở thành một nhân tố của sự phát triển xã hội. Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người. nước ta, đang thực hiện cơ chế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập với khu vực và thế giới, vấn đề sử dụng và phát huy những ưu việt sẵn có xuất phát từ bản chất xã hội phần lớn phụ thuộc vào quản lý và trình độ tổ chức quản lý, vào hiệu quả và chất lượng quản lý.
Ở Việt Nam, cũng có rất nhiều tác giả đưa ra các khái niệm khác nhau về quản lý, sau đây là một số quan niệm chủ yếu: Một định nghĩa 9 kinh điển nhất, theo Từ điển Giáo dục học: “Quản lý hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Dựa trên vai trò các nguồn lực trong quản lý, tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”. Tiếp cận quan điểm hệ thống, tác giả Hà Thế Ngữ lại cho rằng: “Quản lý là dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển hệ thống đó sang một trạng thái mới”. Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, cho rằng: Quản lý là trông coi giữ gìn theo những yêu cầu nhất định.
Gần với quan điểm trên, tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: Quản lý có gốc Hán, lột tả được bản chất của vấn đề chính, đó là hoạt động chăm sóc, giữ gìn và sửa sang, sắp xếp để cho cộng đồng theo sự phân công hợp tác lao động được ổn định và phát triển [26]. Hai quan điểm trên đồng nhất nhau khi cho rằng, quản lý là sự tích hợp, tương tác giữa hai yếu tố “quản” và “lý” nhằm đảm bảo sự ổn định, thúc đẩy sự phát triển của tổ chức. Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí: “ Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức” [14]. Tuy cách định nghĩa, khái niệm có khác nhau, nhưng nhìn chung các tác giả trên đều xoay quanh các yếu tố của nội hàm của quản lý: Ai quản lý (chủ thể), quản lý cái gì (khách thể), quản lý bằng cách nào (phương tiện, công cụ), nhằm để làm gì (mục tiêu) [15].
Từ các quan điểm trên có thể hiểu: Quản lý là quá trình tác động có tổ 10 chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra.