phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về QL hoạt động dạy học môn Tiếng Việt 6 theo định hướng phát triển năng lực HS ở TH. Chƣơng 2: Thực trạng QL hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực HS ở các trường TH huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Các biện pháp QL hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực HS ở các trường TH huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TIỂU HỌC 1.
Khái lƣợc lịch sử nghiên cứu quản lý dạy học môn Tiếng Việt Từ xưa đến nay, thế hệ nhân loại đều khẳng định vai trò vô cùng to lớn của giáo dục đối với con người và sự tồn vong của một quốc gia. Việc nâng cao chất lựợng giáo dục từ lâu đã trở thành vấn đề quan tâm không chỉ của Việt Nam mà của tất cả các nước trên thế giới, nhằm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia. Để nâng cao chất lượng giáo dục, vai trò QLGD là hết sức quan trọng, đây là vấn đề luôn được các nhà khoa học giáo dục trong và ngoài nước quan tâm. Ở nước ngoài, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn QLGD nói chung và QL hoạt động dạy học nói riêng cũng rất sôi động.
Campbell đã cho ra đời công trình đầu tiên nghiên cứu khá hoàn chỉnh các vấn đề QLGD dưới ánh sáng của các học thuyết QL chung, đặc biệt là thuyết hành vi (quan hệ con người) trong QL [35]. UNESCO suốt chiều dài lịch sử tồn tại của mình đã tập hợp nhiều học giả trên thế giới để nghiên cứu những vấn đề QLGD trên quy mô toàn cầu cũng như trong phạm vi khu vực hoặc quốc gia. Từ năm 1964, trong loạt sách về kế hoạch hóa giáo dục đã tập hợp những khuynh hướng nghiên cứu khác nhau về một trong những vấn đề quan trọng của QLGD: kế hoạch hóa giáo dục. Đầu những năm 90, UNESCO PROAP đã xuất bản cuốn sách có tính cẩm nang về kĩ năng QLGD mang tựa đề “Kế hoạch hóa và QLGD vi mô”.
8 Trong những năm cuối của thế kỉ XX, sách báo về QLGD đã xuất hiện rất nhiều. Điển hình là các công trình đề cập những quan điểm mới về QLGD nói chung và QL hoạt động dạy học nói riêng như: [24], [29]. Tuy nhiên, những nghiên cứu về QL hoạt động dạy học ở nước ngoài vẫn chưa có công trình nào bàn luận, nghiên cứu sâu đến QL hoạt động dạy học trong nhà trường TH nói chung và QL hoạt động dạy học trong nhà trường TH lấy năng lực, phẩm chất của HS làm mục tiêu dạy học nói riêng. Ở Việt Nam, trên cơ sở lý luận của triết học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học gáo dục Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về lý luận QLGD và QL dạy học trong nhà trường.
Nhiều nhà sư phạm QL đã tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề về vị trí, vai trò của việc QL quá trình dạy học, ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng dạy học trên lớp đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục. Những ưu điểm và nhược điểm của việc QL hoạt động dạy học trên lớp, bản chất và mối quan hệ giữa QL hoạt động dạy và hoạt động học, QL vai trò của người dạy và người học, QL đổi mới nội dung và cách thức tổ chức tiến hành các hình thức tổ chức dạy học trên lớp, điển hình là các tác giả: Đặng Quốc Bảo [4], Trần Kiểm [16], Nguyễn Thị Mỹ Lộc [19], Trần Thị Tuyết Oanh [21], Lê Phương Nga [20], Đỗ Hương Trà [28], Phan thị Hồng Vinh [31].… Như vậy, vấn đề QLGD nói chung và QL hoạt động dạy học từ lâu đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Ngày nay, vấn đề này càng được quan tâm nhiều hơn và trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt của các nhà nghiên cứu giáo dục, ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể khác nhau nhưng điểm chung mà ta thấy trong các công trình nghiên cứu của họ là: Khẳng định vai trò quan trọng của công tác QL trong dạy và học ở các cấp học, bậc học. Đây cũng là tư tưởng mang tính chiến lược về phát triển giáo dục của Đảng ta: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào 9 tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”[1.
Ngoài ra, còn có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về QL hoạt động dạy học ở cấp tiểu học, có thể kể đến các tác giả như: Dương Trần Bình [5], Ngô Thị Việt Hà [11], Nguyễn Văn Vinh [32], Đinh Tiến Toàn [27], Nguyễn Văn Tạo [25], Phạm Văn Diễn [9]. Như vậy, có rất nhiều đề tài nghiên cứu đến QL dạy học ở trường TH. Các đề tài nghiên cứu trên của các tác gải đã tiến hành nghiên cứu thực trạng biện pháp QL hoạt động dạy học ở các trường TH với nội dung phong phú, sản phẩm là hệ thống các lí luận và thực tiễn các lĩnh vực về QL, QL hoạt động dạy học, các giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học của cấp học hoặc các giải pháp nâng cao chất lượng từng môn học theo nội dung chương trình. Trong các đề tài nêu trên chỉ có đề tài của Nguyễn Văn Vinh [32] là nghiên cứu QL dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực HS ở các trường TH nhưng tác giả nghiên cứu theo cách tiếp cận hoạt động.
Kế thừa thành tựu nghiên cứu của các tác giả, đề tài chúng tôi nghiên cứu QL hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực HS ở các trường TH huyện Vân Canh theo cách tiếp cận cấu trúc hệ thống. Đây là một vấn đề nghiên cứu khá mới trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định, trong bối cảnh toàn ngành GD&ĐT đang triển khai thực hiện CTGDPT 2018, dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS. Việc đề xuất được những biện pháp QL hiệu quả hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực HS ở các trường TH nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở huyện Vân Canh chính là vấn đề mà chúng tôi quan tâm nghiên cứu trong luận văn này. Một số khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu 1.
Quản lý QL ra đời từ rất xa xưa, nó xuất hiện từ thuở bình minh của xã hội loài người. Con người sinh sống theo tập quán quần tụ cộng đồng, có nhiều việc nảy sinh mà một người không thể làm được hoặc làm được nhưng kém hiệu quả, cần phải được phối hợp liên kết với số đông để cùng thực hiện. Từ những yêu cầu khách quan đó, dần dần hình thành tổ chức. QL diễn ra trong mọi tổ chức từ đơn giản đến phức tạp, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn.
Nó chính là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của mỗi tổ chức. Tùy từng cách tiếp cận mà người ta có thể đưa ra những khái niệm khác nhau về QL. Mục tiêu của QL là hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [5, tr.Taylor: “QL là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái gì đó như thế nào bằng PP tốt nhất và rẻ tiền nhất” [5, tr. Henry Fayol là người đầu tiên chỉ ra chức năng và những yếu tố của QL: “QL hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [5, tr.
Theo Trần Kiểm: “QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [17, tr. Theo Bùi Minh Hiền: “QL gồm hai quá trình tích hợp nhau: Quá trình quản là bao gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái ổn định; quá trình lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thế phát triển” [13, tr. 11 Các quan niệm trên đây, tuy khác nhau, song các tác giả đã có cách hiểu chung về một số nội dung của QL là: Hoạt động QL, bao giờ cũng là QL con người được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội. QL là những tác động có tính hướng đích.
QL là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt mục tiêu của tổ chức. Đây là thể hiện mối quan hệ của chủ thể QL và đối tượng QL. Từ các cách tiếp cận trên, ở đề tài này chúng tôi khái quát như sau: QL là sự tác động có ý thức, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL để lãnh đạo, hướng dẫn, điều khiển đối tượng QL thực hiện nhằm đạt mục tiêu đã đề ra. Quản lý giáo dục Theo Trần Kiểm, QL giáo dục được hiểu trên hai cấp, đó là cấp vĩ mô và cấp vi mô.
Ở cấp vĩ mô, “QL giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể QL nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều hành, giám sát,… một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” [17, tr. Ở cấp độ vi mô, “QL giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể QL vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể GV và HS, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” [17, tr. Theo Phạm Minh Hạc: “QL giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể QL, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối nguyên lí của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến bộ trạng thái về chất” [12, tr.